Friday, March 10, 2017

Nghiên Cứu Mới Về Sự Liên Hệ Giữa Việc Tiêu Thụ Đậu Nành Với Bệnh Ung Thư Vú


 
Nghiên Cứu Mới Về Sự Liên Hệ Giữa Việc Tiêu Thụ Đậu Nành Với Bệnh Ung Thư Vú
Amy Wallace

Tâm Linh (Tịnh Thủy) chuyển ngữ



(UPI) Nghiên cứu mới nhất của Viện Đại học Tufts đã bác bỏ giả thuyết cho rằng việc tiêu thụ đậu nành làm tăng mức estrogen và có thể dẫn đến ung thư vú ở phụ nữ.

Trong quá khứ, đã có những tranh luận về việc nên hay không nên ăn đậu nành vì mối quan tâm đến estrogen có thể làm gia tăng nguy cơ ung thư vú,một căn bệnh ung thư phổ biến nhất với thụ thể estrogen dương tính (estrogen receptor-positive breast cancer

Isoflavone - thành phần của đậu nành có tính chất estrogen - đã làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư vú trong các nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, và các phân tích dịch tễ học ở phụ nữ miền Á  Đông bị ung thư vú đã phát hiện mối liên hệ giữa lượng isoflavone cao hơn và giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác đã gợi ý rằng các tác dụng giống estrogen của các isoflavone có thể làm giảm hiệu quả của các liệu pháp hormone (còn gọi là nội tiết tố hay kích thích tố) được sử dụng để điều trị ung thư vú ", Tiến sĩ Fang Fang Zhang, thuộc Trường Khoa Học Dinh Dưỡng Friedman thuộc Viện Đại học Tufts cho biết theo một thông cáo báo chí của trường.

"Do sự chênh lệch này nên vẫn chưa rõ liệu có nên khuyến khích hoặc tránh sử dụng chất isoflavone cho bệnh nhân ung thư vú", ông nói.

Isoflavone có tính chất chống oxy hoá, chống viêm, chống các tác động gây ức chế và các ảnh hưởng khác có thể ảnh hưởng đến sự sống còn và tăng trưởng của khối u ung thư.


Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra mối quan hệ giữa lượng isoflavone trong đậu nành và tử vong từ bất kỳ nguyên nhân nào trong 6.355 phụ nữ Mỹ và Canada mắc bệnh ung thư vú trong giai đoạn chín năm.

Kết quả cho thấy những phụ nữ bị ung thư vú, những người tiêu thụ một lượng lớn isoflavone, có nguy cơ tử vong thấp hơn 21 phần trăm so với những phụ nữ tiêu thụ một lượng nhỏ. Sự sụt giảm này chủ yếu được tìm thấy ở những phụ nữ có dạng ung thư vú không nhận dạng hóc môn và những người không được điều trị bằng liệu pháp chống estrogen. Nghiên cứu cho thấy không có sự liên quan giữa mức uống isoflavone cao và tỷ lệ tử vong cao hơn ở phụ nữ sử dụng thuốc điều trị bằng nội tiết tố. (hormonal therapy).

"Dựa trên kết quả của chúng tôi, chúng tôi không thấy tác động bất lợi của việc ăn uống đậu nành ở những phụ nữ được điều trị bằng nội tiết tố", Zhang nói. "Đối với phụ nữ có ung thư vú ung thư thụ thể kích thích tố, các sản phẩm thực phẩm từ đậu nành có thể có tác dụng bảo vệ. Phụ nữ không được điều trị nội tiết tố như là một liệu pháp điều trị ung thư vú của họ có một liên kết yếu hơn, nhưng vẫn có ý nghĩa thống kê".

Bản nghiên cứu được công bố tại: published in the journal Cancer.

Biên tập bản tin: http://www.upi.com/Health_News/

Các tác gỉa công trình nghiên cứu:

Fang Fang Zhang MD, PhD,

Danielle E. Haslam MS,

Mary Beth Terry PhD,

Julia A. Knight PhD,

Irene L. Andrulis PhD,

Mary B. Daly MD, PhD,

Saundra S. Buys MD,

Esther M. John PhD

First published: 6 March 2017 Full publication history

Chú thích của người dịch:

Liệu pháp kích thích tố hay còn gọi Liệu pháp Hormon (hormon therapy) nhằm ngăn chặn sự tăng trưởng của ung thư vú kích thích tố dương tính (hormone receptor-positive) Liệu pháp sử dụng một hoặc nhiều kích thích tố nữ, estrogen và progestin, đôi khi là testosterone, để điều trị các triệu chứng của thời kỳ mãn kinh.

Thuốc nội tiết là thuốc có chứa hormon. Hormon là những chất sinh học được bài tiết bởi các tuyến nội tiết trong cơ thể, trực tiếp vào máu rồi được chuyên chở đến các cơ quan để điều hòa hoạt động của các cơ quan này.
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Monday, March 6, 2017

Bệnh Alzheimer-Tóm lược từ tài liệu của Apotex Canada



 
Bệnh Alzheimer-Tóm lược từ tài liệu của Apotex Canada
Nguyễn Thượng Chánh
Inline images 1
Tóm lược từ một tài liệu học tập của công ty dược phẩm Apotex Canada
PharmaConseils-Volume douze/Numéro trois- Automne 2008:
«Mise à jour sur la maladie d’Alzheimer»
Hầu như trong gia đình nào cũng có nghe nói hay có người thân xa gần bị bệnh Alzheimer…
Bài nầy ,tác giả xin gởi đến tất cả các bạn già và đặc biệt đến vị thầy khả kính PHH cùng gia đình, hiện đang sống tại MONTREAL.
*Tác giả không phải là bác sĩ y khoa và cũng không phải là dược sĩ- Bài viết nầy chỉ để phổ biến kiến thức khoa học chớ không có mục đích chẩn đoán và chữa trị.
Mọi thắc mắc hay nghi vấn về cách chẩn đoán và điều trị bệnh Alzheimer, xin quý bạn hãy tham khảo trực tiếp với bác sĩ gia đình. NTC
oOo
Ngày xưa ở Việt Nam tác giả cũng đã từng gặp rất nhiều bác lớn tuổi bị lú lẫn đi dạo trong xóm nhưng không biết đường về nhà. Có khi thì con cái đã dọn cơm ăn rồi, nhưng lại trách móc là tụi nó chưa dọn... Thuở đó, mình lại nghĩ rằng hễ già cả rồi thì ai cũng có thể bị lú lẫn hết. Có người bị nặng, có người bị nhẹ. Chỉ đơn giản vậy thôi!
Cho đến sau ngày định cư tại Canada năm 1980, mình mới được nghe đến cái tên Alzheimer lần đầu tiên. Đây là một căn bệnh của người già nên ít ai quan tâm đến như bệnh tim mạch, ung thư hay tiểu đường.Người Việt Nam mình dù cho sống ở đâu đi nữa cũng vẫn có thể vướng bệnh Alzheimer như mọi dân tộc khác...

Alzheimer, ác mộng của nhiều gia đình
Alzheimer là bệnh thoái hóa (neurodegenerative), không phục hồi của hệ thần kinh. Bệnh nhân dần dần bị mất trí nhớ, thay đổi tâm tánh và sa sút trí tuệ (dementia, démence).
Bệnh do Bác Sĩ Alois Alzheimer (Đức Quốc) tìm ra vào năm 1906 sau khi giải phẫu khám nghiệm một người đàn bà chết vì chứng sa sút trí tuệ.
Quan sát não bộ cho thấy có sự hiện diện của rất nhiều mảng thoái hóa amyloides (neuritic plaques, plaques amyloides) bên ngoài tế bào thần kinh chết và những xoắn sợi thần kinh (neurofibrillary tangles, écheveaux neurofibrillaires) do protein Tau tạo ra nằm trong tế bào. Các mảng amyloides và các xoắn sợi thần kinh làm tổn hại hệ thần kinh và ngăn trở sự dẫn truyền mệnh lệnh.

Bệnh dần dần dẫn đến sự sa sút trí tuệ ở người già.
Đây là một hội chứng phức tạp bao gồm nhiều bệnh lý khác nhau như sự mất trí nhớ, mất khả năng phán xét, lý luận, thay đổi nhân cách, tâm tánh, cử chỉ, hành động.
Cả nhiều thế kỷ qua, người ta vẫn thường tuởng rằng hiện tượng trên là một giai đoạn bình thường trong tiến trình lão hóa.
Ngày nay, khoa học cho biết sự sa sút trí tuệ là hậu quả của nhiều bệnh lý khác nhau như: đứng đầu là Alzheimer, tai biến mạch máu não stroke, bệnh Parkinson, bệnh Hungtinton, bệnh Creutzfeldt –Jacob (còn gọi là bệnh bò điên), cancer não, chấn thương sọ não, lạm dụng rượu, và một vài loại thuốc Tây, v.v...

Thống kê 2011 cho biết, tại Canada hiện có  trên  747000 người trên 65 tuổi bị bệnh lú lẫn. Cứ 20 người tuổi trên 65 thì có một người bị Alzheimer. Theo ước đoán, vì tầng lớp người già không ngớt gia tăng thêm lên mãi, cho nên số bệnh nhân Alzheimer có thể lên đến 1.4 triệu người vào năm 2031.

Hoa Kỳ hiện có trên 5,3 triệu bệnh nhân Alzheimer, trong số nầy gồm có 5,1 triệu người trên 65 tuổi, và lối 200 000 người bệnh dưới 65 tuổi.
http://www.lapresse.ca/vivre/s ante/201303/19/01-4632601-une- personne-agee-sur-trois-meurt- avec-alzheimer-aux-etats-unis. php
(Agence France-Presse Washington)
Alzheimer không những chỉ tàn phá bệnh nhân mà thôi, nhưng nó cũng ảnh hưởng nặng nề luôn đến sinh hoạt gia đình và cuộc sống của người thân nữa. Đó cũng là một gánh nặng về y tế phí.
Tại sao có bệnh Alzheimer?
Cho tới ngày nay, các nhà khoa học cũng chưa tìm ra được nguyên nhân thật sự của căn bệnh quái ác nầy. Họ nghi ngờ bệnh có thể là do một loại virus có biến chuyển chậm (lentivirus), do độc tố từ chất nhôm aluminium, ô nhiễm môi sinh (pesticides, nông dược), do hiện tượng tự miễn autoimmune, hoặc do di truyền (maladie d’Alzheimer familiale autosomique dominante) nếu đã từng có xảy ra cho những người thân trong gia đình, hay trong dòng họ qua nhiều thế hệ rồi, hoặc nếu cha mẹ mang gène Alzheimer thì con cái có thể có nguy cơ bị Alzheimer sau nầy.
http://realfoodforager.com/wp-content/uploads/2013/09/Alzheimers_brain.jpg
Nhưng hình như các nhà chuyên môn thiên về phía giả thuyết «protéine bất thường» nhiều hơn hết, trong đó protéine beta amyloide không hoà tan đóng một vai trò then chốt trong sự làm phát sinh ra bệnh Alzheimer... Protéine nầy hiện diện một cách bình thường trong các tế bào thần kinh và cả trong tế bào của các cơ quan khác nữa.
Ở người khỏe mạnh bình thường, beta amyloide sẽ tự phân hủy và bị loại đi nên không thể tạo ra các mảng amyloide được. Còn đối với bệnh nhân Alzheimer, protéine beta amyloide không thể tự phân hủy mà còn kết hợp lại với nhau thành những mảng amyloides trong mô não
https://medlineplus.gov/ency/images/ency/fullsize/23214.jpg
Người ta cũng nhận thấy có sự tan biến tế bào thần kinh trong những vùng thuộc về trí nhớ, và các vùng tâm thần xung yếu khác của não bộ. Ngoài ra còn có sự tuột giảm nồng độ của acetylcholine là chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters).
Những giai đoạn của bệnh Alzheimer
Đôi khi một số nhà chuyên môn sử dụng một thang thăm dò gồm có bảy bậc được gọi là thang suy thoái toàn diện (échelle de détérioration globale ou échelle de Reisberg).
Bệnh Alzheimer có diễn biến chậm và tuần tự thông qua ba giai đoạn. Sự phân chia nầy rất cần thiết để giúp bác sĩ có một mô hình tổng quát của người bệnh, hầu có thể phát họa kế hoạch chữa trị thích nghi.
1* Giai đoạn tiên khởi:
Kéo dài từ 2 đến 4 năm. Thỉnh thoảng hay quên việc nầy việc nọ.
Đôi khi bệnh nhân than phiền khó tiếp thu được những thông tin từ bên ngoài, hoặc cảm thấy khó khăn để thi hành theo lời chỉ dẫn. Người bệnh cũng gặp nhiều trở ngại trong cách diễn đạt tư tưởng của họ, không thể tìm ra đúng chữ để sử dụng.
Khó phân biệt giai đoạn nầy với hiện tượng lão hóa thông thường của mọi người. Bình thường thì người già cũng hay quên những chi tiết nào đó hay những chuyện lặt vặt trong sinh hoạt hằng ngày.
Người bị bệnh Alzheimer cũng có thể quên một cái gì đó, một chi tiết nào đó, quên cả việc lớn và lẫn việc nhỏ nhoi không quan trọng.
http://www.saglikolsun.info/wp-content/uploads/2016/12/ALZHE%C4%B0MER.jpg
Thay đổi nhẹ về nhân cách, thí dụ như tâm tánh bất thường, lo âu, trầm cảm, có khi giận dữ, mất đi sự hồn nhiên thường nhật, bớt tánh khôi hài, từ từ sống khép kín hoặc rút ra khỏi các sinh hoạt quen thuộc.
Sự mất trí nhớ càng ngày càng tăng thêm theo thời gian và theo sư tiến triển của bệnh.
2* Giai đoạn trung gian:
Kéo dài từ 2 đến 10 năm. Suy thoái về các khả năng trí tuệ và thể xác.
Mất trí nhớ, quên cả quá khứ của mình, quên bạn bè là những ai, hoặc quên luôn cả cha mẹ.
Không thể định hướng trong không gian và trong thời gian.
Một số bệnh nhân trở nên không yên, đi tới đi lui, hoặc đi lang thang, lai vãng từ chỗ nầy đến chỗ nọ mà không có mục đích rõ rệt. Mất sự tập trung tư tưởng. Giai đoạn nầy gây nhiều khó khăn cho những người có nhiệm vụ chăm sóc bệnh nhân.
Tâm thần không ổn định. Giấc ngủ bị xáo trộn. Ngôn ngữ khó khăn. Khó khăn trong việc tìm chữ thích hợp để nói, hay dùng những từ không chính xác.
Trở nên thù địch, chửi thề, chụp giữ, đánh cắn, đập phá, hung bạo với mọi người xung quanh, bạn bè và cả với người thân trong gia đình.
Thường có tâm trạng hay bực tức, la hét, hoảng loạn và sau đó thì rơi vào trạng thái trầm cảm
Không thể sống một mình được. Cần phải có người săn sóc một cách thường trực.
http://advancedmentalhealth.com/wp-content/uploads/2014/01/trees-people-memory-loss.jpg
3* Giai đoạn cuối cùng:
Thường rất ngắn ngủi, chỉ kéo dài từ 1 đến 3 năm mà thôi. Thường hay ngủ suốt ngày. Bất động. Không còn nhớ gì hết. Không còn hiểu gì hết. Không còn biết phương hướng. Không nhận biết người nhà.
Bệnh nhân ăn uống không được, hay sặc, khó nuốt, nên bị mất cân, gầy ốm rất nhanh.
Mặt vô cảm không biểu hiện một cảm xúc nào hết. Quên cả bản thân. Không quan tâm đến môi trường xung quanh.
Trao đổi liên lạc với người khác không bằng lời nói mà qua ánh mắt, bằng sự khóc la hoặc rên rỉ.
Mất trí nhớ, mất khả năng trao đổi ý tưởng với người khác. Không nói được. Ỉa trây đái dầm (incontinence).
Không tự rửa ráy, tự mình bận đồ hoặc tự mình săn sóc được.
Nằm liệt giường và cuối cùng thì chết đi vì bị viêm phổi, viêm thận hoặc vì một chứng bệnh nào khác.
Có thể lầm lẫn với hiện tượng lão hóa bình thường
Alzheimer có biến chuyển rất chậm vì vậy bệnh nhân cứ tưởng rằng tại họ già nên phải mất trí nhớ.
Đôi khi những dấu hiệu bên trên là những báo hiệu bước đầu của bệnh Alzheimer.
Có 10 dấu hiệu tiên phong: Hãy coi chừng đó!

http://www.alzheimer.ca/englis h/disease/warningsigns.htm
1/ Mất trí nhớ ngắn (Memory loss that affects day to day function): nghĩa là không nhớ những việc gì mới xảy ra gần đây. Tuy nhiên, sự kiện nầy có thể xảy ra cho bất kỳ ai. Đôi khi tự nhiên mình quên phức đi một cái tên, một số điện thoại, v.v... Người bị Alzheimer cũng quên như thế nhưng họ không bao giờ nhớ trở lại được hết và họ cứ hỏi đi hỏi lại hoài hoài về một vấn đề mặc dù họ đã được trả lời rồi.
2/ Khó khăn trong đời sống hằng ngày (Difficulty performing familiar tasks): như không thể tự nấu cơm, tự chuẩn bị một bữa ăn bình thường. Đôi khi làm xong nhưng quên lững không dọn ra, hay họ quên là họ đã có chuẩn bị bữa ăn rồi.
3/ Khó khăn trong ngôn ngữ (Problems with language): hay quên những chữ rất thường, hoặc sử dụng những từ không thích hợp khiến cho không ai hiểu nổi. Không có thể gọi đúng tên đồ vật.
4/ Mất định hướng trong thời gian và trong không gian(Disorientation of time and place): họ có thể bị lạc lối trên con đường trong xóm mà họ ở từ xưa nay. Họ không hiểu tại sao họ đang ở chỗ đó, và cũng không biết lối nào để trở về nhà.
5/ Không biết cách phán xét, hoặc phán xét quá thô thiển (Poor or decrease judgment): một người còn khỏe mạnh đôi lúc có thể bị lãng trí như quên không giữ cháu bé trong giây lát Người bị Alzheimer thì quên tuốt luôn sự hiện diện của đứa nhỏ mà mình có trách nhiệm trông coi.
6/ Gặp khó khăn trước những khái niệm trừu tượng (Problems with abstract thinking): ai cũng có thể gặp khó khăn trong việc theo dõi kiểm soát sổ trương mục tiết kiệm của mình. Người bị Alzheimer thì không còn hiểu ý nghĩa các số ghi trong cuốn sổ của họ và cũng không biết họ cần phải làm gì.
7/ Lạc mất đồ đạc (Displacing things): họ có thể cất giữ đồ vật trong những nơi không thích hợp, chẳng hạn như đem cất cái bàn ủi trong ngăn đá của tủ lạnh, hoặc đem cất cái đồng hồ trong keo đường, v.v...
8/ Biến đổi tâm tánh và thái độ (Changes in mood and behavior): ai cũng có thể thay đổi tâm tánh hết, nhưng người mắc bệnh Alzheimer thì có cảm xúc không ổn định, tâm tánh của họ biến đổi rất mau, thí dụ như đi từ điềm tĩnh vui cười trước đó sang thái độ thù nghịch hoặc giận dữ khóc lóc chỉ trong vòng đôi ba phút mà thôi.
9/ Thay đổi nhân cách (Change in personality): người bệnh Alzheimer có thể trở nên cau có khó chịu, đa nghi, e dè và lo âu. Có thái độ thù địch với mọi người kể cả người thân trong gia đình họ.
10/ Mất hết sự ham muốn và sáng kiến (Loss of initiative): họ tách rời ra khỏi cuộc sống, không muốn tham gia vào bất cứ một sinh hoạt nào hết. Sống thu hẹp lại, không quan tâm đến người khác, việc khác, v.v...
Có thuốc trị không?
Cho đến nay cũng chưa có một loại thuốc nào có thể chữa được hay chặn đứng lại được sự tiến triển của bệnh Alzheimer.
Chỉ có thuốc giúp làm giảm bớt được phần nào các triệu chứng của bệnh, và giúp cho đời sống của bệnh nhân được phần nào dễ chịu hơn đôi chút mà thôi.
Có cách nào phòng ngừa không?
Hiện nay chưa có một món thuốc nào khả dĩ có thể ngừa được bệnh Alzheimer.
http://seniorlivingconsultants.com/wp/wp-content/uploads/2016/08/assisted.jpg

Một nếp sống lành mạnh có thể giúp làm giảm nguy cơ xuất hiện bệnh Alzheimer. Chẳng hạn như:
- Phải luôn luôn vận động, linh hoạt, làm vườn, đi bộ, tập thể dục, thể thao thường xuyên và đều đặn.
- Dinh dưỡng trong lành: rau cải trái cây tươi các loại, đa dạng, sậm màu để có đủ vitamines và các chất chống oxy hóa antioxidants. Ăn nhiều cá để có chất oméga 3...
- Kích thích não, bắt trí não làm việc thường xuyên: đọc sách báo, viết văn, viết báo, chơi đánh cờ, ô chữ, xếp chữ, v.v...
- Tránh tình trạng căng thẳng tinh thần (stress).
- Kiểm soát huyết áp động mạch, cholesterol, và đường huyết ở giới hạn bình thường.
- Tránh gây chấn thương sọ não.
- Giữ mối giao tiếp xã hội cho luôn luôn tốt đẹp.
- Nhảy đầm, khiêu vũ dưỡng sanh. Có thí nghiệm cho thấy nhịp điệu Tango có thể giúp bệnh nhân Parkinson và Alzheimer cải thiện sự phối hợp giữa các động tác một cách khá rõ rệt.
- Có rất nhiều thí nghiệm đã sử dụng thực phẩm bổ sung và thuốc thiên nhiên như vitamines E, B, acide folique, Selenium, Ginkgo biloba (bạch quả), v.v...
Kết quả không rõ rệt, không chắc chắn cũng như còn thiếu thí nghiệm lâm sàng.
- Nên nhớ là không có thuốc nào có thể chữa được bệnh Alzheimer hết kể cả thuốc thiên nhiên, thuốc Đông y, thuốc Bắc, v.v...
- Và vấn đề lang băm hãy còn rất nhiều.
Kết luận
Bệnh Alzheimer là bệnh lú lẫn của người già, và theo nhận xét thì các cụ bà thường hay mắc phải bệnh hơn các cụ ông. Có lẽ tại nhờ các bà sống dai và có tuổi thọ cao hơn các ông Sống càng già thì nguy cơ vướng bệnh Alzheimer càng cao.

Có người nói, cứ mỗi chặng 5 năm sau tuổi 65 thì tỷ lệ người có nguy cơ bị Alzheimer tăng gấp hai? Và đến tuổi 85 thì 20% trong các cụ có thể bị Alzheimer.

Alzheimer là cơn ác mộng của nhiều gia đình khi họ phải chứng kiến trong đau đớn, xót xa tuyệt vọng, tình trạng sa sút của ông bà hay của cha mẹ mà phải đành bó tay không thể làm gì được hết. Y học có giới hạn của nó. Theo các nhà chuyên môn, để phòng ngừa Alzheimer cũng như để trì hoãn sự phát triển của nó thì chúng ta cần phải bắt trí não làm việc một cách thường xuyên.

Còn lỡ chẳng may vướng phải bệnh Alzheimer rồi thì đành chấp nhận số phận thế thôi. Trời kêu ai nấy dạ mà, cho dù người đó là Tổng Thống R. Reagan hay bà cựu Thủ Tướng Anh Quốc Margaret Thatcher đi chăng nữa, thì cũng...đành chịu vậy thôi!.

Alzheimer là nỗi ám ảnh, và là cơn ác mộng của tất cả mọi người. Nó cướp đi linh hồn, căn tính (identity) và nhân cách, nhưng trớ trêu thay nó chừa sự sống lại trong một thân xác...tàn tạ bệ rạc theo thời gian. Phải chi nó tước luôn cả cái ý thức (conscience) thì tốt hơn cho người bệnh biết mấy, vì thỉnh thoảng những tia ý thức vẫn còn lóe lên chớp tắt như cái bóng đèn trong đầu họ làm họ nhận biết được sự thật quá phủ phàng khiến họ có lẽ chắc phải thầm nghĩ “Trời ơi! Alzheimer đã cướp đi trí nhớ, đầu óc và cả sự sống của tôi rồi”, nhưng liền sau đó thì tất cả lại rơi vào hư vô, tĩnh lặng, không còn biết gì nữa, và chờ đến một lúc nào đó thì tia ý thức đó lại chớp phực ra và lại đem người bệnh vào sự đau khổ tột cùng triền miên, và cứ như thế...cho đến khi chết./.

Nguyễn Thượng Chánh
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Thursday, March 2, 2017

Việt Nam trước hiểm họa sốt rét kháng thuốc

 

Việt Nam trước hiểm họa sốt rét kháng thuốc

Một nghiên cứu mới được công bố trên chuyên san The Lancet Infectious Diseases đầu tháng 2 vừa qua báo động là một dạng sốt rét kháng thuốc đang hoành hành ở các nước tiểu vùng sông Mekong, trong đó có Việt Nam. Các nhà nghiên cứu cảnh báo là nếu dịch sốt rét kháng thuốc này lan sang Ấn Độ và châu Âu, nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho toàn cầu.

Từ một thập niên qua, các nhà khoa học và các nhân viên y tế đã ngày càng lo ngại về một dạng ký sinh trùng sốt rét có thể vô hiệu hóa loại thuốc chủ yếu dùng để điều trị bệnh nhân hiện nay đó là artemisinin. Dịch sốt rét này đã được phát hiện từ năm 2007 tại Cam Bốt và từ đó đã lan sang miền Bắc Thái Lan, miền Nam nước Lào và miền Đông Miến Điện

Nay các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện một siêu ký sinh trùng sốt rét không chỉ kháng hai loại thuốc, mà còn đánh bại các « đồng nghiệp » để chiếm thế « thượng phong ». Loại ký sinh trùng này nay có mặt ở Cam Bốt, Thái Lan Lào. Hiện nó chưa lan đến Miến Điện, cửa ngỏ sang vùng Nam Á, nhưng các nhà nghiên cứu dự báo rằng đây chỉ còn là vấn đề thời gian.

Theo lời giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Sáng kiến Phát triển Cộng đồng, một tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam, bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh, trong số 5 nước vùng sông Mekong thì Việt Nam không phải là quốc gia mà tình tình sốt rét kháng thuốc trầm trọng nhất, nhưng đây cũng là một hiểm họa đối với Việt Nam.

Viện Sốt rét - Ký sinh trùng Trung ương, Bộ Y tế cũng vừa cảnh báo rằng tại nhiều tỉnh thành, bệnh sốt rét vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ bùng phát vì ngày càng nhiều trường hợp kháng thuốc được ghi nhận.Theo viện này, ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc đã xuất hiện ở 5 tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Nông, Bình Phước và đang có nguy cơ lan rộng sang các tỉnh khác trên phạm vi toàn quốc. Viện này nhắc lại rằng mỗi năm, Việt Nam ghi nhận 30.000 trường hợp mắc sốt rét, trên 100 trường hợp sốt rét ác tính và gần 10 trường hợp tử vong do sốt rét.

Nhưng vì sao lại xuất hiện những loại sốt rét kháng thuốc như vậy? Bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh nêu lên hai lý do chính: bệnh nhân uống thuốc không đúng theo chỉ định của bác sĩ và thuốc chất lượng xấu, thuốc giả.

Kể từ khi thuốc artemisinin, do một nhà nghiên cứu Trung Quốc sáng chế vào thập niên 1970, được sử dụng, kèm theo những biện pháp ngăn ngừa muỗi chích, thế giới đã đạt nhiều thành công đáng kể trong việc phòng chống sốt rét. Nhưng nay các nhà khoa học báo động là những thành quả đó có thể bị triệt tiêu, nếu thế giới không cấp tốc diệt trừ loại ký sinh trùng kháng thuốc mới, để ngăn chận loại sốt rét này từ vùng Mekong lan sang phía Tây.

Trước mắt, những nước như Cam Bốt, Thái Lan, Lào và Miến Điện đang tập trung chống sốt rét tại những vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, với nguồn tài trợ của quốc tế. Ở Việt Nam, nguy cơ lây lan sốt rét nói chung và sốt rét kháng thuốc cũng đến từ các cộng đồng di dân, từ vùng đồng bằng lên miền rừng núi kiếm sống, như lời bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh.

Chính vì vậy mà theo bác sĩ Khuất Thị Hải Oanh, hợp tác của các nước trong khu vực để chống sốt rét kháng thuốc cũng phải tập trung vào cộng đồng di dân và các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam.
 

Cùng chủ đề

TẠP CHÍ KHOA HỌC

Chống sốt rét và các bệnh nhiệt đới: Cần nỗ lực đầu tư

TẠP CHÍ KHOA HỌC

Việt Nam đối phó với nạn ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc

ĐÔNG NAM Á

Hiện tượng trùng sốt rét lờn thuốc đe dọa Đông Nam Á

QUỐC TẾ - Y TẾ

OMS : Bệnh sốt rét đã giảm mạnh trên thế giới

TẠP CHÍ KHOA HỌC

Thiếu tiền và nhờn thuốc: hai thách thức trong việc chống sốt rét

KHOA HỌC

Sẽ có vắc xin phòng bệnh sốt rét ?

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, February 28, 2017

Thế nào được gọi là thuốc Generic?

Thế nào được gọi là thuốc Generic?

          
Trong ngành Âu dược, thông thường một bằng sáng chế thuốc chỉ có hiệu lực 20 năm. Cho nên sau khi một loại thuốc gốc mà bằng sáng chế đã hết hiệu lực, chính quyền sở tại ở một nước có quyền cho phép các nhà bào chế thuốc trong nước sản xuất loại thuốc đó, nhưng phải dựa trên công thức, thành phần nguyên liệu có hoạt tính trị liệu căn nguyên bệnh và qui trình chế tạo như đã qui định trong bằng sáng chế thuốc gốc, Trên nguyên tắc căn bản, thuốc phải có công hiệu trị liệu tương đương với thuốc gốc. Loại thuốc được chế tạo hợp pháp như thế này gọi chung là thuốc generic.

image
Vì không phải mất các phí tổn vô cùng to lớn đầu tư ban đầu cho đội ngũ nhân viên nghiên cứu và thiết bị trong công trình nghiên cứu, thí nghiệm, kiểm nghiệm lập đi lập lại nhiều lần để đạt được thành công cuối cùng, cho đến các thủ tục hành chính để có được phép chính thức đưa ra lưu hành trên thị trường cho một loại thuốc gốc mới ( thông thường tất cả thời gian phải mất là khoảng 5 đến 10 năm ), thuốc generic, vì vậy, có giá thành chế tạo cũng như giá bán rẻ hơn thuốc gốc rất nhuều.


image
Về thuốc generic, tuy trên nguyên tắc nói là có công hiệu như thuốc gốc, nhưng trên thực tế thì không phải thuốc generic nào cũng có công hiệu tương đương như thuốc gốc. Dù căn bản là thuốc generic được bào chế dựa trên qui định của bằng sáng chế thuốc gốc, nhưng ở mỗi nước có sự khác biệt về cơ sở, thiết bị để bào chế thuốc, cũng như phẩm chất của nguyên vật liệu sử dụng, trình độ kỹ thuật của đội ngũ công nhân viên, trình độ quản lý sản xuất, kỹ thuật bảo quản nguyên liệu, chế phẩm…, nên phẩm chất của cùng loại thuốc generic khó có thể giống nhau được.


Người ta thường nhận thấy tuy cùng một loại thuốc generic, nhưng khi được chế tạo tại một cơ sở dược phẩm có kinh nghiệm ở một nước Tây Âu, vì căn bản phải chịu sự kiểm soát kỹ càng của cơ quan chính quyền sở tại và có kinh nghiệm cũng như trình độ kỹ thuật sản xuất cao, nên phẩm chất của thành phẩm có phần bảo đảm hơn cùng loại thuốc generic được chế tạo tại một cơ sở dược phẩm địa phương của các nước có trình độ kỹ thuật sản xuất Âu dược còn kém, nhất là khi không có sự hướng dẫn kỹ thuật chế tạo và sự quản trị sản xuất của một cơ sở dược phẩm có kinh nghiệm trên thế giới…



image
Để hướng dẫn việc bào chế thuốc generic được bảo đảm, FDA, cơ quan quản trị dược phẩm và thực phẩm của Mỹ, đã có các yêu cầu căn bản mà cơ sở bào chế thuốc generic cần phải tuân theo như sau:

1. Phải sử dụng các nguyên liệu như thuốc gốc
2. Phải có cùng công hiệu, liều lượng sử dụng và cách thức sử dụng như thuốc gốc
3 Phải có cùng các qui định sử dụng như thuốc gốc
4. Phải được bào chế dưới qui trình sản xuất nghiêm ngặt GMP ( Good Manufacturing Production )



Với các qui định sản xuất như vậy, FDA còn đòi hỏi thuốc generic cần phải đạt được các tiêu chuẩn căn bản sau đây:

1. Có sức công hiệu như thuốc gốc
2. Có cùng tính chất, độ tinh khiết và công hiệu như thuốc gốc
3. Có cùng thời gian sử dụng công hiệu như thuốc gốc
4. Giá bán phải rẻ hơn thuốc gốc
5. Phải được sản xuất theo qui định GMP
6. Phải có hình thức bên ngoài khác với thuốc gốc ( vì hình thức bên ngoài của thuốc gốc thường đã được cầu chứng nên không được làm giống hình thức của thuốc gốc)


Sưu tằm nguồn vietsciences
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Monday, February 27, 2017

Ung thư nhiếp hộ tuyến

Ung thư nhiếp hộ tuyến

Bác sĩ Hồ Ngọc Minh
Image result for Ung thư nhiếp hộ tuyến
Có khoảng 3 triệu người đàn ông Mỹ đang sống với bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến. 

Một nghiên cứu mới nhất của trường Đại học Harvard, cho biết, bệnh nhân đã bị bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến, trong vòng 10 năm, nếu tiếp tục ăn đồ ăn đóng hộp, thực phẩm chế biến, hay thức ăn có nhiều chất béo, khả năng chết vì ung thư tăng lên 2.5 lần. Ngược lại nếu ăn uống cẩn thận, nhiều rau trái, độ tử vong giảm đi 36%.

Nhiếp hộ tuyến, còn gọi là tuyến tiền liệt, prostate gland, là một tuyến thuộc hệ thống sinh dục của phái nam. Nhiếp hộ tuyến nằm ở dưới cổ bọng đái (bàng quang) bao quanh ống dẫn tiểu. Nhiếp hộ tuyến có chức năng tiết ra dung dịch chất kiềm màu trắng. Dung dịch này chiếm 25-50% dung lượng của tinh dịch. Dung dịch từ nhiếp hộ tuyến tăng cường khả năng di động của tinh trùng và giúp làm nhờn niệu đạo khi xuất tinh. Nhiếp hộ tuyến còn đóng vai trò kiểm soát vòi nước tiểu.

Nhiếp hộ tuyến còn tiết ra một chất protein gọi là PSA (prostate-specific antigen). PSA giữ cho tinh dịch ở thể lỏng. Khi lượng PSA trong máu cao, chỉ có nghĩa là có chuyện không ổn với nhiếp hộ tuyến, nhưng không nhất thiết là ung thư. Hormone nam ảnh hưởng đến độ lớn của nhiếp hộ tuyến, và cũng ảnh hưởng đến mức độ PSA. Khi người đàn ông lớn tuổi, nhiếp hộ tuyến càng lớn dần, làm khó khăn cho việc đi tiểu. Tình trạng nầy gọi là “phì đại nhiếp hộ tuyến”, không hẳn là ung thư, nhưng cần phải chữa trị.

Ở Mỹ, ung thư nhiếp hộ tuyến là loại ung thư nhiều nhất của nam giới chỉ đứng sau ung thư da, và là ung thư gây ra tử vong đứng hạng thứ nhì cho đàn ông Mỹ. Ung thư nhiếp hộ tuyến thường tăng trưởng rất chậm. Hầu hết bệnh nhân sống trên 65 tuổi, nghiên cứu cho thấy 80% đàn ông khi qua đời ở tuổi 80 trở lên có bị ung thư nhiếp hộ tuyến mà không hề hay biết. Tuy nhiên nếu định bệnh sớm thì khả năng sống còn sẽ cao hơn.

Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến:
Thường thường, khi mới bị ung thư, bệnh nhân không có dấu hiệu gì khả nghi cả. Hầu hết biết mình bị ung thư khi đi kiểm tra hằng năm và thử máu. Tuy nhiên một số triệu chứng sau đây có thể xảy ra:
– Đi tiểu thường xuyên
– Đi tiểu đêm nhiều lần
-Đi tiểu khó khăn
-Đi tiểu đứt khoảng, không liên tục
-Đi tiểu ra máu
-Đi tiểu đau
-Có khó khăn trong việc cương cứng
Trong trường hợp ung thư thời kỳ nặng, các triệu chứng sau đây có thể xảy ra:
-Đau xương cột sống, đau xương chậu, đau xương sườn.
-Đau nhức xương và đùi
-Chân yếu
-Són tiểu
-Són phân
Nguyên nhân gây ra ung thư nhiếp hộ tuyến:
Người ta vẫn không biết chắc tại sao, nguyên nhân nào gây ra bệnh. Tuy nhiên một số lý do có thể kể đến:
  1. Tuổi tác: Tuổi tác là nguy cơ hàng đầu. Đàn ông càng lớn tuổi thì nguy cơ càng cao. Ung thư nhiếp hộ tuyến rất hiếm cho người dưới 45, nhưng sau 50 tuổi thì tăng dần.
  2. Yếu tố di truyền: Theo thống kê thì yếu tố di truyền chắc chắn có ảnh hưởng đến nguy cơ bị ung thư nhiếp hộ tuyến. Ở Mỹ, ung thư nhiếp hộ tuyến có nhiều và gây ra tử vong cao cho người gốc Phi Châu hơn là người Mỹ da trắng. Anh em sinh đôi nếu một người bị ung thư, người kia sẽ dễ bị hơn. Một người có cha hoặc anh đã bị ung thư thì nguy cơ sẽ bị tăng gấp đôi. Nghiên cứu mới nhất còn cho biết hai gene BRCA-1 và BRCA-2 tăng nguy cơ cho ung thư vú cho phái nữ cũng làm tăng nguy cơ ung thư nhiếp hộ tuyến cho phái nam.
  1. Ẩm thực: Nhiều nghiên cứu cho lấy ăn uống theo lối Địa Trung Hải, nhiều rau trái và ngũ cốc, sẽ giảm khả năng bị ung thư nhiếp hộ tuyến. Thực phẩm như đậu nành, trà xanh, và chất selenium có thể giảm nguy cơ bị ung thư, nhưng không làm giảm bớt bệnh ung thư nếu đã bị bệnh. Các nghiên cứu khác cho thấy khi kết hợp chế độ ăn uống tốt với thể dục thể thao đều đặn, các gene gây ra ung thư, giảm bớt cường độ hoạt động. Ngoài ra, chế độ ẩm thực thiếu vitamin D, nhiều thịt đỏ, cũng dễ gây ra ung thư.
  2. Thuốc men: Một số thuốc trị đau nhứt có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư nhiếp hộ tuyến. Trong khi đó, một số nghiên cứu mới cho thấy thuốc statin, giảm cholesterol, có khả năng giảm nguy cơ bị ung thư nhiếp hộ tuyến.
  3. Béo phì: Những người béo phì dễ bị ung thư nhiếp hộ tuyến và dễ chết vì bị ung thư di căn.
  4. Bệnh phong tình: Những người bị giang mai, lậu mủ dễ bị ung thư nhiếp hộ tuyến.
  5. Chất độc da cam: Agent Orange, làm tăng khả năng bị ung thư nhiếp hộ tuyến khoảng 48% cho các cựu chiến binh Mỹ đã từng tham chiến ở Việt Nam.
Chữa trị ung thư nhiếp hộ tuyến bao gồm giải phẫu để cắt bỏ bướu u, kèm theo chiếu điện hay hoá học trị liệu. Nguy hiểm của giải phẫu có thể làm hư hại đến các dây thần kinh kiểm soát vòi tiểu hay khả năng cương cứng, gây ra chứng són tiểu, hay yếu sinh lý. Tuy nhiên tựu trung nếu chữa trị sớm thì khả năng sống còn sẽ rất khả quan.
__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Sunday, December 11, 2016

Bac si, duoc si lung tung [1 Attachment]



BS Lê Văn Sắc
Có nhiều người, lâu ngày không gặp, tưởng Lê Văn Sắc đã moved đi tiểu bang khác hay “đã được Chúa gọi về”, vì ít thấy viết bài hay xuất hiện trong các sinh hoạt cộng đồng, nguyên do, tuổi già sức yếu, mắt kém nên mỗi khi cần viết lách hay đọc sách, xem màn hình computer... đều không còn rõ nữa dù đã mổ mắt chữa cataract cả 2 mắt, đặt mắt giả (đúng ra là 2 thủy tinh thể -lens-) và nay lái xe thì khỏi đeo kính, còn đọc sách vẫn phải đeo kính vì các thấu kính này không thể chữa hết các bệnh của mắt như cận thị, viễn thị, mắt già, loạn thị, loạn sắc, thủy tinh thể bị méo hay lệch, nhất là với những người già, khi mổ đặt thấu kính (lens) vào tròng mắt, không ai dám bảo đảm là các thấu kính này sẽ ở nguyên vị tri mãi mãi như khi mới đặt vào vì các xoang chứa thấu kính không có gì bám giữ các lens này tại nguyên vị trí, nên các lens chữa bệnh có thể di chuyển hay xoay quanh, do đó, sau này, các lens này không còn work well để giữ được kết quả như lúc ban đầu. Chuyện Lý Tống “biểu tình” đòi kiện một bác sĩ giải phẫu mắt rằng đã bảo đảm là chữa mắt, sau khi giải phẫu, sẽ không phải đeo kính... 

Theo tôi nghĩ, không có bác sĩ nào bảo đảm chữa hết các bệnh hoàn toàn, nhất là thay thấu kính (lens), do đó, trong bất cứ bệnh viện nào, tại các phòng mạch bác sĩ tư, người ta luôn có đưa một giấy cam đoan không thưa kiện nếu có gì sai sót hay kết quả không đúng như ý muốn.

 Nếu không có giấy cam kết này, chẳng ai dám chữa bệnh hay mổ cho bệnh nhân, vì rằng y khoa tiến bộ rất nhiều nhưng cũng không ai dám bảo đảm là sẽ chữa hết bệnh và khi chữa bệnh không có biến chứng (side effects), hay chết. Ngay như bản thân các bác sĩ mắc bệnh, khi vào bệnh viện hay đi khám tại phòng mạch bác sĩ bạn, chúng ta đều phải ký giấy cam đoan không thưa gửi, kiện tụng gì nếu có gì xẩy ra ngoài ý muốn.

Câu chuyện mà tôi thấy cần viết lên đôi điều là chuyện một ông chủ báo và truyền thông lên truyền hình và radio talk shaw, phỏng vấn một “cô dược sĩ” “về mật ong, và nói về những điều cô ấy nghe hay thấy người ta xử dụng mật ong”. Đầu tiên cô dược sĩ này nói rằng ngày xưa cô “có thấy bà mẹ xử dụng mật ong cho các em bé uống rất tốt, đông y cho dùng rất nhiều và lại thắc mắc tại sao tây y lại cấm không cho con nít dùng mật ong” và ông chủ đài lại chẳng biết gì về mật ong lại cứ khen cô dược sĩ... rồi kết luận “ba phải” nghĩa là ông ấy cũng chẳng biết gì mà cứ nói vuốt đuôi, dễ làm cho các người bệnh và thân nhân, vốn không có kiến thức về y khoa, sẽ tin theo và xử dụng lung tung, rất nguy hiểm cho bệnh nhân. 

Cô dược sĩ bảo ngày xưa cô thấy mẹ cô cho các em uống mật ong là sai. Thực sự thì các em bú sữa thường có một bợn trắng đóng trên lưỡi, người ta khuyên lên lấy que bông quệt vào mật ong, rồi quyện trên lưỡi, chỗ có bợn trắng, nguyên vì mật ong dính, quyện cái bợn trắng ấy đi, làm sạch lưỡi. Công việc chỉ có vậy chứ không cho con nít uống, ăn mật ong. 

Còn Tây Y thì không cấm con nít uống, ăn mật ong, nhưng khuyên không cho uống, ăn mật ong vì nguyên do sợ trong mật có chứa một loại vi trùng yếm khí Clostridium Botulinum gây bệnh botulism (nhiễm độc thức ăn) có thể gây hại cho em bé, gây chết chóc. Loại vi trùng yếm khí này nguy hiểm cũng như loại vi trùng gây bệnh sài uốn ván (tetanos), giết người rất dữ, rất nhanh, nên Tây Y mới khuyên không nên cho con nít ăn uống mật ong. 

Cô đó xưng là dược sĩ (Tây Y) sao không biết chuyện này? 

Ngay ngày hôm qua, một ông bạn có học về đông y đến chơi nhà, tôi nêu vấn đề thì vô tình đúng “khả năng đông y” của ông, ông bèn la lớn, nói ai bảo đông y cho dùng mật ong cho con nít như vậy? Rồi ông giải thích mật ông “rất hàn”, đâu có cho dùng mật ong cho con nít đâu... Tôi cũng từng nghiên cứu về đông y nhưng sau thấy y lý đông phương thường là căn cứ vào kinh nghiệm (chứ không phải thực nghiệm) rồi tự cho kết luận rằng điều trị như vậy là đúng..., nghĩa là không có căn bản về khoa học, nên bỏ ngang.

 Trong Tây Y có một phương pháp kiểm chứng mà người ta gọi là phương pháp thực nghiệm (khoa học duy nghiệm, khác với khoa học duy lý như toán học), và Tây Y là khoa học duy nghiệm (thực nghiệm), tức là theo đúng tiến trình 3 bước như sau:

1.     Quan sát, suy nghĩ về hiện tượng và đặt giả thuyết kiểm chứng (ví dụ quan sát tìm hiểu về một bệnh, ví dụ bệnh nhiễm trùng).

2.     Làm các thí nghiệm (thí là làm thử để kiểm chứng) mà Việt Cộng dùng chữ xét nghiệm, tôi thấy chính xác hơn (khen VC một câu chứ chê thì ngàn vạn câu, chê ngay cả lý thuyết vô thần và chủ nghĩa cộng sản lếu láo của họ): Tìm hiểu nguyên do bệnh (ví dụ: loại vi trùng nào gây bệnh)

3.     Tìm cách chữa bệnh: Tìm thuốc trị bệnh: Sau khi kiểm chứng đi, kiểm chứng lại, người ta mới đi đến kết luận: Thuốc xử dụng được để trị bệnh nhưng vẫn phải kèm theo những giới hạn vì chưa kiểm chứng hết.

Về chuyện đông y, trước kia cha mẹ tôi thường đi khám bệnh, chữa bệnh với các đông y sĩ, có một ông lang, thấy tôi là quân y (Tây Y) mà vẫn chở cha mẹ đi xem mạch đông y thì cho là tôi có thể hòa hợp với đông y được nên muốn gả con gái cho (cô ấy cũng đang học tại Đại Học Y Khoa Saigon với tôi, khác cấp lớp) nhưng vì bà mẹ của cô chưa có nói gì rõ ràng nên tôi cũng đâu có lý do gì mà lên tiếng yes or no, nhưng tôi hiểu ý của bà, bèn tìm cách giới thiệu cô ấy cho 2 tên bạn, cùng lớp, nhưng chuyện cũng không thành. Sau này, nghe nói vì biến cố 30-4-1975, gia đình cô kịp chạy khỏi Việt Nam và cô lấy chồng cũng là một bác sĩ. 

Tôi rất muốn nghiên cứu về đông y nhưng không có hoàn cảnh, sau này sang Mỹ, thấy có một quảng cáo về lớp dậy đông y, tôi viết thư xin học nhưng lại đề rõ là bác sĩ (MD) nên không thấy họ trả lời, chắc họ nghĩ bác sĩ tây y mà xin học đông y là chuyện “đùa, diễu”, chứ tôi không thực tâm. Thực sự thì tôi biết Đông Y có một kho tàng thuốc rất quý, đã chữa được nhiều bệnh, mà tôi muốn theo học để đem vào phòng thí nghiệm dược khoa (viện bào chế) nghiên cứu, chiết xuất ra dùng cho Tây Y... Tây y nghiên cứu, chiết xuất ra từng chất hóa học để xài chứ không xài hổ lốn tùm lum, xắc lên rồi uống. 

Tôi có một thí dụ về người Tây Y đã để con mắt tới thuốc đông y liên quan tới 4 ông thầy Tây Y (giáo sư thạc sĩ và bác sĩ y khoa). Câu chuyện này, nghe kể, có liên quan đến GS Thạc Sĩ Trần Vỹ. Ông thầy Trần Vỹ có ông bố lớn tuổi lắm, nghe nói trên 80 hay 90 mắc sạn thận. 

Vì tuổi già, thầy Trần Vỹ không dám để cho ông cụ mổ (vì khá đau đớn, mà cụ thì yếu sức rồi, nhất là ngày đó phương pháp mổ chưa tối tân như bây giờ) nên đã mời 3 vị giáo sư y khoa, gồm các bác sĩ du học về và thầy Ngô Gia Hy (thạc sĩ y khoa ngành thận, tiết niệu), nhưng cả 4 vị đều không dám lấy quyết định cho cụ mổ, rồi đột nhiên có một vị đề nghị đưa đi ông lang khám bệnh vì có một ông lang cho bệnh nhân uống một thứ thuốc nào đó, hòn sạn tan và biến mất... Thế là thầy Trần Vỹ cho đưa cụ đến ông lang xin khám bệnh, ông lang cho 3 thang thuốc về sắc uống, kết quả hòn sạn tiêu luôn, cụ hết đau. Thế là các vị đồng ý đem thuốc đông y gửi sang một Phòng Thí Nghiệm của Mỹ để dùng phương pháp hóa học phân tích, nghiên cứu. 

Kết quả cả năm sau mới có kết quả gửi về báo cho biết, trong gói thuốc đã phân chất được khoảng 10 ngàn chất hóa học, nhưng chưa biết thứ nào làm tan hòn thận, yêu cầu Thầy Trần Vỹ gửi thêm thuốc để nghiên cứu... Thầy Trần Vỹ xuống gặp ông lang xin thêm 3 thang nữa, đem gửi sang phòng thí nghiệm của Mỹ để họ nghiên cứu tiếp. Cả mấy tháng sau, Phòng Thi Nghiệm Mỹ gửi tin báo cho biết: “Chúng tôi đã loại bỏ được 7 ngàn chất, chỉ còn 3 ngàn chất chưa có kết quả rõ rệt, yêu cầu ông gửi thêm.

 Thầy Trần Vỹ xuống mua thêm 3 thang nữa thì một ông lang mới ra tiếp và cho biết “ông lang cho toa ấy đã chết rồi, tôi không biết gì về vị thuốc ấy”. Ai cũng biết rằng Tầu và Việt Nam có thói giấu nghề, tìm được cái gì hay thì giữ bí mật làm của gia bảo, không truyền cho con gái, sợ con gái lấy chồng truyền cho ngoại tộc”... Những thí dụ như vậy nhiều lắm, tôi thường được nghe kể... 

Còn câu chuyện ông cụ thân sinh GS Trần Vỹ thì chỉ nghe kể, nay chỉ có BS Trần Tự là con GS Trần Vỹ và là cháu nội của cụ cố có thể xác nhận mà thôi. Nghe nói bạn Trần Tự cũng ở San Jose nhưng không thấy bạn xuất hiện trong các sinh hoạt với các Hội Y Sĩ Việt Nam tại Bắc California, Hội Y Sĩ Việt Nam tại Hoa Kỳ và Hội Y Nha DượcTự Do (trên Thế Giới) nên tôi không có dịp gặp lại để hỏi.

Cách nay một tuần, tôi gọi hỏi Phạm Bằng Tường về chuyện ông bạn nhà báo phỏng vấn cô dược sĩ thì nhất định Phạm Bằng Tường bảo đó là dược sĩ giả chứ không phải dược sĩ Tây Y thật, đó là màn quảng cáo “sơn đông mãi võ” như quảng cáo Mỹ Phẩm, Mền Miếc, ai tin thì ráng chịu. 

Cách nay mấy tháng, cỡ một năm, có khoa học gia Nguyễn Thượng Vũ (không phải bác sĩ Nguyễn Thượng Vũ Cứu Người Vượt Biển) vạch trò gian dối của những người bán thuốc bịp Stem Cell, tôi và Hoa Hoàng Lan có lên tiếng. Riêng BS Nguyễn Ý Đức ) ở xa, Texas, cũng đã lên tiếng... Tôi thì nói rõ Stem Cell là phương pháp cấy (culture) tế bào gốc, giúp sinh ra những tế bào lành mạnh để lấy ghép thay thế cho những tế bào hư (ung thư) chứ không có chế thành viên uống, vì như vậy là bịp. 

Hôm qua ông bạn đến chơi có nhắc tới Lê Lộc và thắc mắc: “Sao Lê Lộc lại dính vào vụ bịp bợm đó nhi?”.
Tôi đến Pulau Bidong vào tháng 3 năm 1979 (tầu số 273, cùng tầu với cha Lê Ngọc Triêu, lúc đó tôi mới 38 tuổi) làm trưởng Ban Vệ Sinh Phòng Dịch, thay thế dược sĩ Trần Hán Hồ (Bạc Liêu) đi định cư, bắt đầu viết những bài hướng dẫn về vệ sinh phòng dịch giúp bà con tị nạn biết giữ vệ sinh để tránh bệnh tật, sang Mỹ, tôi cũng viết những bài hướng dẫn y khoa thường thức đầu tiên. Năm nay 2016, tức đã ở Mỹ 37 năm, đã khó khăn lắm trong việc đi lại, viết lách... Các bác sĩ đàn anh, đàn em viết bài hướng dẫn y khoa như BS Vũ Quí Đài, BS Vũ Văn Dzi, BS Nguyễn Văn Đức, BS Thú Y Nguyễn Thượng Chánh... đều đã “nghỉ hưu”, còn tôi thì còn lai rai, chỉ có BS Nguyễn Y Đức thấy còn viết khá đều.

Câu nói cuối cùng của bài này là “khuyên bà con đừng nghe lời quảng cáo xạo mà tiền mất tật mang, bị những kẻ lừa gạt ấy chê cười”. Chúc mọi người an vui, tràn đầy hồng ân mùa Giáng Sinh 2016 và Năm Mới 2017 và Năm Ất Dậu... và ông bạn cũng có lời cảnh báo là chúng ta không nên tin bác sĩ đông y, bác sĩ châm cứu, bác sĩ thoa nắn, và đúng ra theo luật Việt Nam chỉ có bác sĩ Tây Y mới đúng là bác sĩ (doctor of medicine=MD=Tiến Sĩ Y Khoa), còn các người khác chỉ là doctor Tiến Sĩ Trơn mà thôi. Chỉ vì người Mỹ gọi MD cũng là doctor nên người ta nhầm doctor là bác sĩ. Không, doctor là tiến sĩ, Doctor of Medicine mới là Bác Sĩ. Ông nói cái gì mà bây giờ người ta tự xưng là bác sĩ tùm lum, lung tung...

BS Lê Văn Sắc

Tái bút: Nhân tiện cũng xin cám ơn BS Phạm Hoàng Tánh đã giúp giải thích về các phương cách mổ, chữa mắt, nhất là phương pháp Lazic chữa bệnh cườm (cataracts). Về phương diện nhãn khoa (opthalmologist) BS Tánh là người lớn tuổi nhất trong lớp bác sĩ trẻ của Việt Nam tại Mỹ, tức là có kinh nghiệm lâu năm nhất, còn optometrist không phải bác sĩ nhãn khoa, chỉ là tiến sĩ chuyên viên đo kính, cũng xin lỗi vì lời thật mất lòng với các người không phải là bác sĩ đúng nghĩa.
__._,_.___

Posted by: sacvan le 

Featured Post

Đây là lý do tại sao bạn nên nằm ngủ nghiêng về bên trái

  From: VUONG DANG < Date: Sun, Nov 22, 2020 at 8:10 PM Subject: Fw: Đây là lý do tại sao bạn nên nằm ngủ nghiêng về bên trái/Why Slee...

Popular Posts