Saturday, July 7, 2018

Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm


----- Message transmis -----
De : Nguyen Thi Thu Van : Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm














Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm

Các anh chị,
Trước đây tôi thường ngủ ngon từ 10 giờ tối đến 5 giờ sáng. Nhưng mấy năm gần đây giấc ngủ chập chờn, khô khan và gián đoạn vì phải thức giấc 2 hay 3 lần (có khi đến 4 lần) để dùng phòng tắm. Vì thức dậy liên tiếp nên rất khó ngủ lại, rồi cả ngày buồn ngủ, mệt nhọc.

Mới đây, trong câu chuyện về các chứng bệnh của người già, chị Hạnh -- người đẹp của anh Tài, hội viên hội Vietnam Healing Foundation -- nói rằng người lớn tuổi ăn một ngày 3 muỗng cà phê mè rang (nguyên hột, không muối, không đường) sẽ khỏi phải thức giấc tiểu tiện ban đêm.

Chị Hạnh là người thành thật và khả kính, nhưng tôi vốn không tin mấy phương thuốc ngoại khoa, nhất là các “bí quyết gia truyền” phổ biến trên mạng Internet từ các thầy lang trong nước. Tuy vậy, nhà có sẵn mè và theo tôi biết mè rất lợi ích cho sức khỏe, nên tôi (và bà xã) thử áp dùng phương pháp chị Hạnh bày Tin vui là phương pháp đó rất hiệu quả. Tôi muốn viết thư ngay để cảm ơn chị Hạnh và chia xẻ với các anh chị nhưng ngại rằng hiệu quả đó có thể nhất thời, cá biệt, do thể chất của tôi hay phản ứng hóa học giữa mè và mấy thứ đồ ăn nào đó.

Tôi nghĩ tôi nên chờ đợi. Gần ba tháng trôi qua, mè rang vẫn hữu hiệu với gia đình tôi. Những buổi chiều tập thể dục, cắt cỏ, hay đánh tennis tôi uống nhiều nước, có khi cả đến hai chai, mè rang vẫn hữu hiệu. Cảm ơn chị Hạnh.

Các anh chị thử dùng mè rang. Ước mong mè rang hữu hiệu trong trường kỳ và không có phản ứng phụ bất lợi nào hết.
NgPhụng

NỘI DUNG CHI TIẾT

Hạt vừng hay được gọi là hạt mè với nhiều loại, phổ biến là vừng vàng, vừng trắng và vừng đen. Hạt vừng có một hồ sơ dinh dưỡng rất kinh ngạc. Ngoài những vitamin thì trong hạt mè còn chứa lượng lớn các khoáng chất tự nhiên và các hợp chất hữu cơ bao gồm canxi, sắt, magiê, phốt pho, mangan, đồng, kẽm, chất xơ, thiamin, vitamin B6, axit folic, protein, và tryptophan. Do vậy mà những lợi ích mà hạt vừng mang lại cho sức khỏe cũng vô cùng lớn.

VIDEO VỪNG RANG SẴN NHƯ CHÂU

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/black_white_sesame_seeds_600x379_1383401788.jpg
1. Huyết áp
2. Phòng chống ung thư


http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/22_05_2013_10_48_bigstock_sesame_oil_4353578_1383401363.jpg
3. Kiểm soát bệnh tiểu đường
4. Đường tiêu hóa

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/_vyrn_127sezam_1383401749.jpg
5. Sức khỏe xương
6. Chống viêm nhiễm


http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/sesamealmondcrackers_1383401061.jpg
7. Bảo vệ dưới các tác nhân bức xạ
8. Sức khỏe răng miệng


http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/truth_about_oil_pulling_sesame_seeds_oil_image_1383401472.jpg
9. Da và tóc
10. Chức năng chuyển hóa

http://gaolut.vn/_img_server/gallery/2013/11/02/size640/20130107_cookiemonster_raw_honey_date_sesame_ball_cookies_1383400956.JPG
11. Lưu ý
Nếu như ăn quá nhiều hạt mè có thể gây khó chịu ở dạ dày và ruột kết. Tuy nhiên, những việc này chỉ xảy ra khi ăn với lượng rất lớn.













__._,_.___

Posted by: Hank Music 

Thursday, June 21, 2018

Sốt là gì?



Sốt là gì?
Bác sĩ Nguyễn Ý- Đức


Sốt là khi nhiệt độ trong người cao hơn mức trung bình.
Nhiều nhà chuyên môn đề nghị chính xác hơn: sốt là khi nhiệt độ lên cao vì một bệnh nào đó chứ không phải vì các lý do thông thường như sự tiêu hóa thực phẩm, khi có cảm xúc mạnh, khi vận động cơ thể, có thai, có kinh nguyệt…
Cẩn thận hơn, có người thêm là nếu nhiệt độ cơ thể lên quá 37.2°C kèm theo đổ mồ hôi, hơi thở nhanh, mạch máu ngoài da giãn nở, đó là sốt.

Nhiệt độ bằng hoặc cao hơn 38°C (100°F) khi đo ở hậu môn, hoặc cao hơn 37.5°C (100.4°F) khi đo ở miệng là sốt.
Ở người bệnh, nhiệt độ được đo ba lần trong ngày, được ghi lên một biểu đồ để giúp theo dõi bệnh trạng. Một số bệnh có những cơn sốt đặc biệt, cho nên biểu đồ nhiệt độ cũng giúp chẩn đoán bệnh. Chẳng hạn:
– Sốt định kỳ (relapsing fever) với vài ngày nhiệt độ lên cao rồi vài ngày bình thường như trong bệnh sốt rét.
– Sốt lên xuống hai lần trong ngày ở bệnh viêm khớp, thấp khớp.
– Sốt liên tục (continuous fever) trong ngày như viêm sưng phổi.
– Cơn sốt tăng giảm từng lúc (remittent fever) như trong bệnh lao phổi với nhiệt độ buổi sáng cao hơn buổi chiều.
– Sốt từng hồi hoặc gián đoạn (intermittent fever)

Sốt diễn ra theo ba giai đoạn:
a- Cơ thể phản ứng với tác nhân gây sốt bằng cách tăng bạch cầu, nhiệt độ lên cao, da lạnh, cơ thể run rẩy, mạch máu ngoại vi co hẹp, lông tóc dựng đứng, da xanh nhợt, khô.
b- Trong giai đoạn 2, nhiệt độ giữ ở mức cao, cơ thể hết run
c- Sau đó, nhiệt độ giảm, mạch máu ngoại vi giãn nở, đổ mồ hôi, da lạnh và trở lại mầu sắc bình thường.
Sốt có thể ngắn hạn hoặc dài hạn. Ngắn hạn thường là khoảng 2 tuần lễ, trong các trường hợp nhiễm vi khuẩn. Dài hạn lâu hơn hai tuần lễ như trong trường hợp ung thư hoặc sốt không rõ nguyên nhân (FUO).
Theo các khoa học gia, một cơn sốt nhẹ làm tăng interferon, một chất thiên nhiên chống virus và ung thư; tăng khả năng diệt vi khuẩn của bạch huyết cầu và lymphô bào. Nhiệt độ cao cũng gây cản trở cho sự tăng sinh của vi khuẩn.
Quan sát ở súc vật, người ta thấy khi một con thằn lằn bị vi khuẩn xâm nhập, nó sẽ bò ra phơi mình ngoài nắng để tăng nhiệt độ cơ thể.

Nguyên nhân gây sốt
Sốt có thể gây ra do các nguyên nhân từ ngoài hoặc từ trong cơ thể
1- Nguyên nhân từ ngoài cơ thể:
– Nhiễm các loại vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng.
– Dưới tác dụng của vài dược phẩm như kháng sinh nhóm Penicillin, sulfonamid, thuốc chữa bệnh lao, thuốc an thần loại barbiturates, thuốc chống kinh phong phenytoin, thuốc sổ táo bón, chất interferon, các loại thuốc kích thích (Ectasy, angel dust…)
– Tiêm vài chất đạm lạ đối với cơ thể như các loại globulin trị bệnh uốn ván
– Truyền máu.
– Thời tiết oi ả, nóng bức, tiếp xúc lâu với ánh nắng mặt trời.

2- Nguyên nhân từ cơ thể:
– Do sự hủy hoại tế bào sau thương tích, thiếu dinh dưỡng, viêm sưng mô bào, bệnh của các mô liên kết như thấp khớp, lupus ban đỏ SLE, thống phong, xuất huyết dạ dày, thiểu máu các cơ quan (nhồi máu cơ tim, lá lách…)
– Phản ứng miễn dịch của cơ thể khi vật lạ xâm nhập.
– Các trường hợp tế bào mới tăng sinh bất thường như trong khối u ác tính hoặc lành tính. Nhiệt độ có thể kéo dài cả tháng, đôi khi cả năm và là vấn đề nguy hiểm cần để ý.
– Rối loạn chuyển hóa cấp tính như trong cơn cường tuyến giáp, bệnh thống phong.
– Tình trạng khô nước trong cơ thể.
– Có nhiều trường hợp sốt vì thay đổi trực tiếp của trung tâm điều hòa thân nhiệt chứ không do tác nhân gây sốt từ ngoài hoặc trong cơ thể. Chẳng hạn khi bị u bướu, xuất huyết hoặc khối huyết não.
– Xúc động mạnh cũng làm thân nhiệt tạm thời lên cao. Có nhiều trường hợp, khi mới nhập viện, nhiệt độ lên cao trong vài ngày rồi giảm, vì người bệnh lo sợ bị bệnh nặng.
Một số loại sốt mang địa danh quốc gia như sốt Dương Tử Giang với nhiễm Schistosoma japonicum, sốt xuất huyết dịch Korea, sốt đảo Chypre do nhiễm khuẩn Brucella melitensis, ban nhiệt Sao Paulo, sốt định kỳ Mỹ USA recurrent fever…

Ðiều trị sốt
Đa số các bác sĩ đều có chung ý kiến là, để giảm sốt phải điều trị nguyên nhân gây ra sốt. Chẳng hạn như khi sốt do vi khuẩn gây ra thì phải dung trụ sinh để tiêu diệt vi khuẩn.
Với trẻ em, theo Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ, sốt dưới 38.9°C (102°F) không cần điều trị, trừ khi các em cảm thấy khó chịu hoặc đã bị kinh phong trong quá khứ.

Cần theo dõi tình trạng bệnh. Nếu em bé vẫn tỉnh táo, tươi cười, da dẻ hồng hào, ăn uống, chơi đùa, ngủ nghỉ như thường, thì không cần cho uống thuốc giảm nhiệt. Ngược lại khi sốt cao và gây khó chịu cho bé, có thể cho uống thuốc hạ nhiệt độ hoặc chườm lạnh.
a- Thuốc chống sốt
Thuốc giảm sốt đều rất công hiệu nhưng cũng có nhiều tác dụng phụ và không nên dùng cho mọi loại sốt mà phải căn cứ vào tùy trường hợp, đặc biệt là ở trẻ em. Sốt có thể có vài ích lợi cho người bệnh. Theo nhiều nhà chuyên môn y học, chữa sốt khi nào bệnh nhân cảm thấy khó chịu và để tránh kinh phong, khô nước, rối loạn tuần hoàn, hô hấp.
Aspirin và acetaminophen là thuốc giảm sốt thường dùng nhất. Tuy nhiên, aspirin không được dùng cho trẻ em dưới 18 tuổi hoặc khi bị nhiễm virus, để tránh Hội chứng Reye. H.C..Reye là rối loạn trầm trọng, có thể chết người, thường ảnh hưởng tới gan và tế bào não. Ngoài ra cũng có thể dùng Ibuprofen.

Theo ý kiến chung của y giới, acetaminophen vẫn là thuốc an toàn và ưa thích hơn cả để trị nóng sốt.
Liều lượng phải căn cứ vào sức nặng cơ thể chứ không theo tuổi. Nên hỏi bác sĩ hoặc đọc kỹ hướng dẫn trên chai thuốc.

b- Chườm nước ấm.
Ðể em bé ngồi trong chậu nước ấm cao độ 4 phân. Thấm nước ấm với một cái khăn, lau nhẹ lên thân mình và chân tay. Nước sẽ làm nhiệt độ trong cơ thể giảm xuống qua sự bốc hơi. Tiếp tục làm như vậy cho tới khi nhiệt độ cơ thể giảm xuống (khoảng nửa giờ).
Đừng chườm nước lạnh hoặc túi nước đá vì có thể làm bệnh nhân run và tăng nhiệt độ. Không thoa dầu nóng hoặc cồn để tránh ngấm qua da, gây ngộ độc.

c- Giữ nhiệt độ trong nhà mát dịu.
d- Không nên mặc quá nhiều quần áo.
đ- Cho uống nhiều nước (nước lã hoặc nước trái cây).
e- Ðể em bé chơi tự nhiên chứ đừng ép nằm trên giường.
g- Ăn uống tùy theo sự chịu đựng của người bệnh, nhưng không nhiều chất béo, khó tiêu hóa.

Thông báo cho bác sĩ nếu em bé dưới 3 tháng sốt tới 38°C (100.4°F) hoặc em bé lớn hơn với nhiệt độ trên 40°C (104°F), đồng thời không chịu ăn uống, bị tiêu chẩy, ói mửa, cơ thể có dấu hiệu khô nước, kêu đau nhức cuống họng, tai…
Với người lớn, đối phó với sốt cũng tương tự như ở trẻ em. Ðiều quan hệ là quan sát phản ứng của cơ thể đối với sốt.
Nếu trong người thấy rất khó chịu, mệt mỏi thì uống vài viên thuốc chống sốt rồi nghỉ ngơi, uống nhiều nước. Giới hạn nước uống có caffeine vì chất này tăng nhiệt độ cơ thể và chặn tác dụng hạ nhiệt của thuốc chống sốt..
Ở cả người lớn lẫn trẻ em, nên tới bác sĩ để khám bệnh, chữa trị khi:

a- Sốt với nhức đầu, cứng cổ, mệt lả, mất phương hướng, lên cơn co giựt
b- Sốt trên 40ºC (104ºF) không thuyên giảm với chăm sóc tại nhà
c- Sốt kéo dài quá ba ngày
d- Sốt vừa phải nhưng kéo dài cả hai ba tuần lễ.

Bác sĩ Nguyễn Ý- Đức


__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay"

Friday, June 1, 2018

TÌM HIỂU VỀ THUỐC GIẢM ĐAU



TÌM HIỂU VỀ THUỐC GIẢM ĐAU


- TYLENOL (ACETAMYNOPHEN) = GIẢM SỐT,CHỐNG NHỨC ĐẦU
- IBUPROFEN (MOTRIN) = ĐAU BẮP THỊT,VIÊM SƯNG (Té ngã)
- NAPROXEN (ALEVE) = ĐAU NHỨC KHỚP XƯƠNG (Phong Thấp, Đau Lưng, Cột Sống)

                                                                                                    Bs. Hồ Ngọc Minh
                                                                                                          21:39 18 tháng 7, 2017


Cảm giác đau đớn là điều không ai muốn cả. Thật ra, cảm giác đau có tác dụng bảo vệ cho chính chúng ta. Cũng vì sợ đau nên ta không dám liều lĩnh, và cũng vì đau nên những thói quen về hành động cũng như suy nghĩ phải thay đổi theo phản xạ, theo thời gian.
                                                
                                                    
Đau nhức
Cho đến nay, người ta cũng không hiểu tại sao não bộ lại biết đau, với nhiều giả thuyết dẫn giải về những “đường lối” (pathways) đưa đến cảm nhận đau. Một thí dụ đơn giản, khi ta bị thương tích chẳng hạn, những dây thần kinh cảm giác bị khuấy động và dẫn về não bộ, qua nhiều “cửa ngõ” (gates) khác nhau. Những tín hiệu đau nầy cũng được khuếch đại bởi các “chất làm cho biết đau” gọi là prostaglandins được tiết ra khi cơ thể bị thương tích, bị viêm sưng (inflamation). Cũng các chất prostaglandins nầy lại dính dáng chuyện cơ thể tăng thân nhiệt làm cho ta bị sốt.

Chất prostaglandins được đặt tên theo tuyến tiền liệt, tức là nhiếp hộ tuyến, prostate gland. Năm 1935, nhà khoa học người Thụy Điển, Ulf von Euler, khám phá ra chất nầy trong tinh dịch của người đàn ông. Sau đó người ta biết thêm, proataglandins gồm có nhiều chủng loại và được sản xuất ra ở nhiều nơi khác nhau trong cơ thể, cũng như có nhiều phận sự hay tác dụng tùy theo trường hợp.
Chất prostagladins được sản xuất ra từ chất béo, mỡ đặc, do chi phối của hai chất xúc tác, enzymes gọi là cyclooxygenases (COX-1 và COX-2). Prostaglandins làm cho mạch máu giãn nở hay co thắt, làm cho máu đông đặc hay ngược lại, làm điều hoà mức độ vị viêm sưng khi bị thương tích, làm cho tử cung co thắt khi sanh nở, cũng như ảnh hưởng đến cơ chế điều hoà thân nhiệt, gây sốt, bảo vệ cho bao tử không bị thương tích và nhiều tác dụng khác…
Năm 1971, người ta khám phá ra rằng aspirin và các loại thuốc tương tự trong nhóm gọi là NSAIDs (Nonsteroidal anti-inflammatory drugs) có tác dụng giảm sự sản xuất ra chất prostagladins bằng cách khống chế các chất xúc tác cyclooxygenases (COX-1 và COX-2). Vì thế các loại thuốc nầy đều có những hiệu ứng giảm đau, chống sốt…
Ngoài aspirin, trong nhóm NSAIDs nầy gồm có các loại thuốc tiêu biểu như ibuprofen (Motrin), naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren).
Thuốc Tylenol (acetaminophen) tuy có những công hiệu tương tự nhưng lại thuộc vào một diện khác, hoàn toàn độc lập. Cho đến nay người ta cũng không hiểu làm thế nào thuốc Tylenol (acetaminophen) lại giảm đau, chống sốt. Khác với các thuốc trong nhóm NSAIDs kể trên, thuốc Tylenol (acetaminophen) chỉ có tác dụng giảm bớt hiệu năng của chất xúc tác COX ở trong hệ thần kinh trung ương, não bộ mà thôi. Vì thế, khác với ibuprofen (Motrin), naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren), Tylenol có tác dụng giảm sốt và chống nhức đầu nhiều hơn là giảm đau bắp thịt, đau xương, hay chống sưng do thương tích.
                                                     
                           
Nhức đầu
Người ta cũng cho rằng thuốc Tylenol có những tác dụng trên hệ thống cảm nhận đau ở não bộ, gọi là endocannabinoid system (ECS). Hệ thống ECS, nầy cũng chịu ảnh hưởng bởi các chất thuốc phiện, cần sa. Cũng vì lý do đó mà Tylenol cũng được dùng chung với các loại thuốc giảm đau có nguồn gốc thuốc phiện như Codeine, tạo thành thuốc Tyenol #3 chẳng hạn.
Trước khi bàn về thuốc giảm đau có nguồn gốc thuốc phiện, opioids, ta hãy phân biệt sự khác biệt về tác dụng của các loại thuốc giảm đau đã nêu trên.
Như đã đề cập, thuốc Tylenol có tác dụng giảm sốt, chống nhức đầu hơn là giảm đau ngoài não bộ nói chung, vì thế thuốc nầy dùng thích hợp nhất khi bị cảm cúm. So với các loại NSAIDs, thuốc có ưu điểm là không gây ra tác dụng phụ như loét bao tử, tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch, hay làm cho máu loãng không đông. Tuy nhiên, ngộ độc thuốc Tylenol có thể làm hư gan cấp tính. Thuốc ibuprofen (Motrin) có tác dụng giảm đau bắp thịt nhiều hơn là giảm nhức đầu hay giảm sốt. Thuốc ibuprofen (Motrin) dùng thích hợp cho các trường hợp bị viêm sưng như té ngã, đau khi có kinh nguyệt chảng hạn. Trong khi đó, thuốc naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren) có lợi thế chống đau nhức khớp xương nhiều hơn là giảm sốt, giảm đau bắp thịt, thí dụ như đau phong thấp, đau lưng, cột sống.Tuy nhiên trong mọi trường hợp đau nhẹ, sốt nhẹ, thời gian ngắn hạn, loại thuốc nào trên đây cũng uống được. Nếu bị đau nhức kinh niên, để giảm tác dụng phụ, phải uống đúng loại thuốc cho đúng loại đau nhức.
Thuốc có nguồn gốc hay hiệu ứng thuốc phiện, opioids, là các chất kích hoạt lên các hệ thống thần kinh trung ương làm giảm cảm nhận đau hay tăng cảm giác biết sung sướng gọi là opioid receptors. Các loại thuốc như thuốc phiện, bạch phiến (heroin), morphine và một số thuốc tổng hợp như hydrocodone, oxycodone (Oxycontin) and fentanyl đều tác dụng trên các opipoids receptors này.
                                                   
                                                 
Phê thuốc
Thuốc opioids trước đây chỉ được dùng cho những trường hợp đau đớn trầm trọng. Hiện nay nguy cơ của nạn ghiền thuốc tăng vọt lên tình trạng báo động khẩn cấp. Một phần do các bác sĩ kê toa thiếu trách nhiệm. Năm 2012, có khoảng 260 triệu toa thuốc opioids được viết ra, đổ đồng một lọ thuốc 30 viên cho mỗi đầu người trên toàn dân số nước Mỹ! Phần khác do người tiêu thụ lạm dụng thuốc. Trong năm 2013, có khoảng 40 triệu người dùng thuốc opiods một cách bừa bãi, trẻ nhất chỉ 12 tuổi! Trong số những người dùng thuốc, 25% bị nghiện, chưa kể những trường hợp dùng thuốc “không chính thức” như là ma tuý. Cũng trong năm 2015, có khoảng 60,000 người tử vong vì ngộ độc thuốc opioids, nhiều hơn số lính Mỹ chết trận trong toàn bộ chiến tranh Việt Nam !
Không riêng gì thuốc có nguồn gốc hay hiệu ứng thuốc phiện, các loại thuốc như Tylenol, ibuprofen (Motrin), naproxen (Aleve), và diclofenac (Voltaren) cũng gây ra tình trạng nghiện ngập và ngộ độc. Riêng thuốc ibuprofen (Motrin), gần đây được chứng minh có thể làm tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch.
Khả năng chịu đau có thể thay đổi tùy người và tùy theo chủng tộc cũng như tùy theo nền văn hoá. Có lẽ sự khác biệt là do sự truyền dẫn tín hiệu đau đến hệ thần kinh trung ương đi theo nhiều đường (pathways), nhiều cửa (gates) khác nhau tùy theo mỗi cá nhân, mỗi trường hợp.
Tóm lại, không ai muốn đau cả. Tuy nhiên nên kiên nhẫn và tránh lạm dụng thuốc giảm đau nói chung không riêng gì thuốc phiện. Kiên nhẫn ở đây có nghĩa là khi dùng thuốc phải cho thời gian để thuốc có hiệu ứng. Tránh lạm dụng là chỉ nên dùng thuốc khi cần, dùng ít thuốc, và dùng đúng loại thuốc tùy theo loại đau nhức. Cá nhân tôi hiện nay, khi bị đau, lại quay về dùng thuốc aspirin, là loại thuốc xưa nhất, ít nguy hiểm và lại có những tác dụng phụ tốt như giảm nguy cơ bị ung thư, bệnh tim mạch.

BS Hồ Ngọc Minh








__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay" 

Thursday, May 24, 2018

Mật ong được sử dụng như một loại thuốc tự nhiên thích hợp cho mọi lứa tuổi.


---------- Forwarded message ----------
From: Phung Nang Tran <>
Date: 2018-05-22 18:25 GMT-07:00
Subject:  MẬT ONG

Mật ong được sử dụng như một loại thuốc tự nhiên thích hợp cho mọi lứa tuổi. Nó chứa các chất chống vi khuẩn tự nhiên và đặc tính chữa lành vết thương và chống viêm.
Mật ong rất tốt, nhưng bạn có biết uống mật ong trước khi đi ngủ? - Ảnh 1Shutterstock
Mật ong cũng có khả năng chống lại nhiễm trùng. Mật ong cũng là một loại thuốc chống tiểu đường, làm giảm mức đường huyết. Nó hoạt động như là một phương thuốc tuyệt vời để chữa cảm lạnh và ho thông thường. Mật ong cũng có thể điều trị nhiễm trùng đường hô hấp trên.
Mật ong có nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng sẽ đặc biệt mang lại những lợi ích sức khỏe sau đây nếu dùng trước khi đi ngủ, theo boldsky.
Kích thích hoóc môn ngủ
Mật ong là một bữa ăn nhẹ tuyệt vời trước khi đi ngủ vì nó làm tăng hàm lượng insulin. Và nó được biết rằng insulin có thể kích thích sự giải phóng tryptophan trong não. Tryptophan sau đó được chuyển thành serotonin, hoóc môn thư giãn và tâm trạng tốt nên thúc đẩy giấc ngủ ngon.
Gan đầy
Gan đòi hỏi nhiên liệu vào ban đêm, vì vậy mật ong là sự lựa chọn hoàn hảo. Tại sao? Mật ong sẽ làm cho gan sản xuất glucose, thúc đẩy sự giải phóng nhiều hoóc môn đốt cháy chất béo. Mật ong chứa cả fructose và glucose, rất tốt cho hoạt động của gan vào ban đêm.
Giảm cân
Mật ong hoạt động như một chất đốt cho gan và làm cho gan sản xuất glucose. Dùng mật ong trước khi đi ngủ, cơ thể bạn sẽ bắt đầu đốt nhiều chất béo hơn vào ban đêm. Mật ong nguyên chất chỉ chứa 64 calo mỗi cốc và nó sẽ cho bạn cảm giác no trong suốt cả đêm.
Thuốc ho tự nhiên
Mật ong là một biện pháp tuyệt vời để điều trị ho và cảm lạnh thông thường. Nhưng, bạn có biết rằng mật ong cũng có lợi cho việc điều trị ho đêm ở trẻ. Uống 2 muỗng cà phê mật ong 30 phút trước khi đi ngủ sẽ giúp trẻ giảm bớt cơn ho, theo boldsky.
Tiêu hóa tốt
Uống mật ong với nước ấm trước khi đi ngủ là một trong những cách an toàn nhất để giúp làm sạch các chất độc có trong hệ tiêu hóa của cơ thể. Các chất kháng khuẩn có trong mật ong hữu cơ có thể giúp tiêu diệt các mầm bệnh gây hại trong ruột.
Giảm cơn đói buổi tối
Đôi khi, sau khi ăn tối, bạn vẫn cảm thấy đói vào cuối buổi tối. Cách tốt nhất để điều trị cơn đói nửa đêm là uống mật ong trước khi đi ngủ. Đường tự nhiên trong mật ong sẽ làm tăng lượng đường huyết, theo boldsky.
Dành cho những người béo phì
Những người đang chiến đấu với chứng béo phì có thể dùng mật ong vào ban đêm. Bởi vì mật ong hoàn toàn không béo và sẽ hạn chế lượng chất béo. Uống nước ấm chanh với một thìa mật ong sẽ giúp giảm lượng mỡ bụng.
Làn da khỏe
Các đặc tính kháng khuẩn, chống nấm và chống ô xy hóa có trong mật ong làm cho nó trở thành một loại thuốc tuyệt vời để có làn da khỏe mạnh. Những tính năng này giúp giữ cho làn da mịn màng và mềm mại, nếu bạn uống nó trước khi đi ngủ, theo boldsky.
Giảm nguy cơ mắc tiểu đường
Bạn có biết rằng uống 1 muỗng cà phê mật ong trước khi ngủ có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường? Dùng mật ong mỗi đêm có thể giúp điều trị bệnh tiểu đường. Bởi vì nó giúp làm giảm mức đường huyết.
Tăng cường hệ miễn dịch
Mật ong nguyên chất chứa các chất chống ô xy hóa chống lại các gốc tự do nên ngăn ngừa nhiều bệnh tấn công hệ miễn dịch. Mật ong cũng chứa nhiều chất polyphenol, chất chống ô xy hóa có thể ngăn ngừa được nhiều bệnh về tim và ung thư, theo boldsky.
Ngọc Lam





--
TRAN NANG PHUNG
__._,_.___

Posted by: Tran Nang Phung 

Friday, May 4, 2018

Lần đầu tiên vô hiệu hóa được gen Alzheimer trong tế bào não của con người

đầu tin nhắn đã chuyển tiếp:
Từ: "'Patrick Willay' >
Ngày: 14:08:16 GMT-7 Ngày 14 tháng 04 năm 2018
Đến:
Chủ đề: [ChinhNghiaViet] PHUONG TON: Lần đầu tiên vô hiệu hóa được gen Alzheimer trong tế bào não của con người
Trả lời-Tới: >
 
Lần đầu tiên vô hiệu hóa được gen Alzheimer trong tế bào não của con người
Phương Tôn
The researchers targeted the apoE4 protein
Các nhà khoa học khẳng định, vừa đạt được một bước  quan trọng trong cuộc chiến chống lại bệnh Alzheimer, sau khi lần đầu tiên vô hiệu hóa được gen quan trọng nhất chịu trách nhiệm cho căn bệnh này.
Một nhóm nghiên cứu tại California đã thành công khi xác định được một protein liên quan đến gen-apoE4-có nguy cơ cao (high-risk apoE4) và sau đó điều khiển để ngăn ngừa gen làm hư hại các tế bào thần kinh của con người.
Nghiên cứu này có thể mở cánh cửa cho một loại thuốc mới có khả năng ngăn chặn bệnh, tuy nhiên các nhà nghiên cứu đã cảnh báo, vì cho đến nay hợp chất của họ chỉ được thử trên các bộ sưu tập tế bào (collections of cells) trong phòng thí nghiệm.
Có một bản sao của gen apoE4 tăng gấp đôi khả năng mắc bệnh Alzheimer trong khi hai bản sao làm tăng nguy cơ 12 lần.
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng có khoảng một phần tư số người mang gen này.
Trong tế bào thần kinh của con người, protein apoE4 dị biến (misshapen) không hoạt động chính xác và bị phân hủy trong tế bào thành những mảnh vỡ (fragment) gây bệnh.
Điều này dẫn đến một số vấn đề thường gặp trong bệnh Alzheimer, ảnh hưởng đến 7,1% người Anh ở độ tuổi trên 65, bao gồm sự tích tụ (accumulation) protein tau và amyloid peptide.
Nhóm nghiên cứu tại các viện nghiên cứu Gladstone muốn xác định, liệu sự hiện diện của protein này có gây ra tổn thương cho tế bào thần kinh hay không, hoặc hư hại là do thiếu nó.
Với công nghệ tế bào gốc, nhóm nghiên cứu tạo ra các nơ-ron từ các tế bào da do bệnh nhân Alzheimer hiến tặng với hai bản sao của gen-apoE4.
Bằng cách so sánh các tế bào với những tế bào không tạo ra một protein apoE4, họ kết luận rằng, chỉ với sự hiện diện của protein apoE4 đã gây ra tổn thương não.
Sau đó họ sử dụng một “bộ điều chỉnh cấu trúc” (structure corrector) di truyền, để loại bỏ các dấu hiệu của bệnh Alzheimer.
Các nhà nghiên cứu hiện đang làm việc với ngành dược phẩm để cải thiện các hợp chất hầu có thể dùng để thử nghiệm trên bệnh nhân.
Thử nghiệm này đặc biệt quan trọng vì nó xảy ra trong tế bào người.
Yadong Huang, người đứng đầu nhóm nghiên cứu phổ biến kết quả nghiên cứu trên tạp chí „Nature Medicine“, cho biết: “Sự phát triển thuốc cho bệnh Alzheimer trong 10 năm qua, phần lớn chỉ là những sự thất vọng.
Rất nhiều loại thuốc hoạt động tốt trong mô hình chuột, nhưng cho đến nay chúng đã thất bại trong các thử nghiệm lâm sàng.“
Huang và các đồng nghiệp của ông đã đi thẳng vào các tế bào não của con người hơn là thử nghiệm theo truyền thống với chuột vì họ nhận ra sự hiện diện của gen apoE4 không làm thay đổi sự sản xuất amyloid beta trong não của chuột.
Tháng trước các nhà khoa học Anhcũng tiên đoán rằng, trong vài thập kỷ tới, những người bị bệnh Alzheimer sẽ có thể sống với căn bệnh mà không có các triệu chứng tổn hại.
Phương Tôn
Tháng 4.2018
Theo: News/ Scince – The Telegraph
https://www..telegraph.co.uk/science/2018/04/09/alzheimers-gene-neutralised-human-brain-cells-first-time/

__._,_.___

Posted by: Nguyen Tran 

Wednesday, April 25, 2018

Phóng Sự Điều Tra Về Thuốc Tây: Bán Bệnh

 



Vch trn s tht ca nghành Y DƯỢC .
Xin chuyn đến mi người cùng theo dõi  bài này !
Hy vng ai cũng thích thú vì mang nhiu li ích cho chúng ta .

Phóng S Điu Tra V Thuc Tây: Bán Bnh

Bs Nguyn Thượng Chánh


“Les vendeurs de maladies” là mt ta đ trong thiên phóng s Cash Investigation do nhà báo Pháp Elise Lucet, TV France 2 thc hin và được trình chiếu năm 2012 và 2013.(ti Canada, đài TV5).

Phóng s
điu tra (journal denquête) t cáo mt s đi công ty dược phm c tình to bnh mi đ bán thuc.

Người gõ xin phng dch ra nhng ý chánh trong cun phim.

Video:
LES VENDEURS DE MALADIES - FR2 (1.31 hrs)-nói tiếng Pháp
http://www.youtube.com/watch?v=fgbz8LM0Zbo

Ngun tham kho chánh: TV France 2 và báo Le Nouvel Observateur
LES VENDEURS DE MALADIES - FR2
Play video
http://www.youtube.com/watch?v=fgbz8LM0Zbo

Pharmaceutical Industry Profile(Canada)
http://www.ic.gc.ca/eic/site/lsg-pdsv.nsf/eng/h_hn01703.html
“From 2001 to 2013, total pharmaceutical sales in Canada have almost doubled to $21.6 billion, with 89 percent sold to retail drug stores and 11 percent sold to hospitals. Governments account for 42 percent of drug expenditures and private payers the remaining 58 percent (private coverage and individuals).”


* * *

Các nhà bào chế cố tình “tạo ra” ra một bệnh lý (pathologie) phù hợp với phân tử (molécule) mà họ vừa tìm ra được
mặc dù đôi khi món thuốc mới nầy có những phản ứng phụ không thể tránh khỏi được.
Ròng rã trong thời gian 6 tháng, nhóm Cash Investigation đã điều tra về lề lối làm ăn của một số nhà tài phiệt lớn trong ngành dược phẩm và họ đã phải giật mình trước những điều khám phá ra: “Từ 15 năm qua, các nhà bào chế lớn đã tạo (façonner) ra nhiều bệnh mới để bán thêm được nhiều thuốc”.
Bệnh lý giả tạo, hội chứng tưởng tượng…Lề lối làm ăn vô lương tâm kiểu nầy có hại vô cùng cho sức khoẻ bệnh nhân. Thuốc mới chứa đầy phản ứng phụ nguy hiểm mà nhà sản xuất cố tình lờ đi.

Đây là một cuộc điều tra vô tiền khoáng hậu của các nhà báo Pháp. Họ đã dám vuốt râu hùm để tìm sự thật và gom
góp chng c ti Pháp cũng như ti nhiu quc gia khác chng hn như Hoa K và Canada.
T 15 năm qua, các nhà bào chế to ra bnh nhm mc đích đ bán thuc.
(Ph
ng dch t: Psychologies.com/seniors/ les vendeurs de maladies)
http://forum.psychologies.com/psychologiescom/Seniors/vendeurs-maladie-sujet_3972_1.htm
Các bệnh mới không ngớt ra đời, lấy thí dụ như “Hội chứng biến dưỡng” (Syndrome métabolique) hay còn gọi lại Hội chứng thùng nước lèo hay bụng bự(Syndrome de la bédaine).Công ty dược phẩm Sanofi (Pháp) tuyên bố rầm rộ về sự ra đời của một món thuốc mới: Acomplia (Ribonabant) và tung ra một chiến dịch nhồi sọ quảng cáo trên khấp thế giới. Ngày nay, nhiều nhà chuyên môn trong y khoa quả quyết rằng tất cả đều trên là bịa đặt, sai bét hết.
Hội chứng biến dưỡng thật sự ra không có. Nhưng đó là bốn loại bệnh đã được biết từ trước rồi: áp huyết cao, cholesterol, tiểu đường, và dư cân (hypertension, cholesterol, diabète et surpoids) kết hợp lại chung với nhau trong một bao bì mới (nouvel emballage) hay nói một cách khác là bình cũ nhưng rượu mới. (fait du neuf avec du vieux).
Thuốc
Acomplia cho thấy đã gây phản ứng phụ cho trên 1000 bệnh nhân tại Pháp (xáo trộn tâm thần nặng, troubles psychiatriques graves). Có 10 người chết trong số nầy có 4 người tự tử…
Một năm rưởi sau ngày có mặt trên thị trường,
Acomplia bị cấm bán tại Pháp và sau đó thuốc cũng bị cấm trên cả thế giới.
Hơn nữa, qua thí nghiệm lâm sàng trước khi thuốc được phép bán,công ty Sanofi hơn ai hết đã biết rất rõ tầm quan trọng của các phản ứng phụ…
Cơ quan quản lý dược phẩm Liên Âu (Agence européenne du médicament) đã quyết định cho phép bán Acomplia sau khi họ cân nhắc “ lợi nhiều nhiều hơn hại” (bénéfice supérieur au risque).
Thiên phóng sự đã cho chúng ta thấy có mối liên hệ tài chánh giữa cty Sanofi và một số bác sĩ specialists “chuyên môn” về “bệnh” đó..(chẳng hạn như Gs Després tại Canada hay Bs Boris Hansel tại Pháp.)
Riêng tại Pháp, có thể nói rằng 90% dân chúng rất tính nhiệm bác sĩ gia đình của họ. Nhưng sau những scandales về thuốc men lòng tính nhiệm của người bệnh đối với bác sĩ cũng bị sứt mẻ đi rất nhiều.
Được biết là các nhà bào chế chi 25 000 euros/ mỗi năm/cho mỗi bác sĩ để tạo ảnh hưởng tốt đẹp cho sản phẩm mới. (rapport IGAS, inspections générales des affaires sociales).
Để nhắm vào một thị trường càng rộng lớn càng tốt, các nhà bào chế quảng cáo khuyến mãi những loại bệnh mà hầu như ai cũng có thể mắc phải hết. Họ thu lợi rất nhiều qua việc sản xuất những món thuốc để trị những căn bệnh phổ thông hơn là sản xuất thuốc dể chữa trị những bệnh hiếm thấy hơn mà ít người mắc phải.
Nói chung, đó là những bệnh không rõ ràng thường hay thấy xãy ra ở những người bình thường. Cuối cùng nhà bào chế thành công trong việc làm cho một số lớn quần chúng tin là họ đang mắc phải bệnh đó. Thị trường dược phẩm nở rộng ra.
Đôi khi họ tạo ra những “bệnh dỏm”, đôi khi họ cho mở rộng thêm chu vi của căn bệnh.
Bằng cách nào? Nhà bào chế cho hạ ngạch số định bệnh (baisse le seuil de diagnostic) để có thể trị được một số lớn bệnh nhân, càng nhiều, càng lâu, càng tốt.
Một khảo cứu Hoa Kỳ cho biết chỉ cần thay đổi dấu chấm, hay thay đổi cái dấu phết trên ngạch số của một bệnh là sẽ có thêm được một số lượng lớn bệnh nhân mới.
($$$$).

Bênh tiểu đường type II.
Ngày xưa được xác định là đường huyết phải trên mức 140mg/dL.
Năm 1997, ngạch mức trên bị Cơ quan y tế thế giới OMS rút xuống còn 126 mg/dL (7mmol/L)…
Lập tức có thêm 1 700 000 người Mỹ được xếp vào danh sách bệnh nhân tiểu đường (suốt đời!)
Cholestérol. 
Năm 1998.ngạch mức từ 240mg/dL bị rút xuống còn 200mg/dL.
Lâp tức xã hội Hoa Kỳ có thêm 42 600 000 bệnh nhân có cholesterol cao trong máu…
Các nhà bào chế có thêm được 86% khách hàng mới.
“Trên thế giới, chỉ có hai nhóm người: nhóm người đã bệnh rồi và nhóm người chưa biết họ bệnh.”
Đó là mục tiêu của các nhà bào chế dược phẩm.
«Dans le monde, il ny a plus que 2 groupes de gens: ceux qui sont malades… et ceux qui ne le savent pas encore… et ça, cest lobjectif des firmes pharmaceutiques
Những chiến lược thường được các công ty bào chế áp dụng
1 - Cho giảm ngạch số định bệnh (réduire le seul de diagnostic):
Đây là chiến lược nhằm thổi phồng lên một cách giả tạo số bệnh nhân cần phải được điều trị.
Lấy thí dụ bệnh tiểu đường type 2.
Như vậy số người cần phải uống thuốc gia tăng thêm lên mặc dù nguy cơ tiểu đưởng rất ư là thấp.
Nay họ lại phải bị bắt buộc chịu đựng thêm nguy cơ phản ứng phụ từ những loại thuốc uống vào.
Réduire le seuil de diagnostic: il sagit dune stratégie destinée à gonfler artificiellement le nombre de gens à traiter.. On peut prendre par exemple le cas du diabète de type 2. Bien que garder un niveau faible de glucose dans le sang na pas de réel impact pour la majorité des patients, le seuil de glucose à partir duquel le diabète est diagnostiqué ne cesse de baisser. Ainsi, le nombre de gens médiqués augmente, et les personnes avec un risque diabétique très faible sont soumis aux risques dus aux effets secondaires des médicaments quon leur fait prendre

2 -
Phóng đại sự hiệu nghiệm (Exagérer lefficacité); 
tạo cho bệnh nhân ấn tượng thuốc có hiệu nghiệm rất lớn nhằm thống lĩnh thêm thị trường. Theo các nhà chuyên môn, chiến lược nầy rất thường được áp dụng nhưng cũng chỉ là để hổ trợ cho những chiến lược khác mà thôi.
Exagérer lefficacité: de la même façon, faire croire à une plus grande efficacité permet de conquérir de nouveaux marché. Daprès les auteurs, cette stratégie est fréquente mais nest quun complément aux autres stratégies.
3 - Tạo ra những bệnh mới (créer de nouvelle maladie):
Có gì hay hơn là tạo nên được một thị trường mới. Người ta chứng kiến sự ra đời của những bệnh lý mới, chẳng hạn như tiền tiểu đường (Pre-diabète) và tiền cao máu (Pré-hypertension)
Đồng thời với việc giảm ngạch mức định bệnh,( baisser seuil de diagnostic) hoặc áp dụng những sự thay thế (utilisation de substituts). Người ta có thể nghĩ đến chứng ostéopénie nghĩa là những xương có mật độ thấp (faible densité) nhưng chưa đủ để phải bị liệt vào trường bệnh loãng xương ostéoporose.
Ngày nay, ostéopénie được công tuy dược phẩm nhồi vào đầu bệnh nhân và nó trở thành một bệnh mới và chiếm một số bệnh nhân nhiều hơn là số bệnh nhân của bệnh loãng xương ostéoporose thật sự gấp bội. Nhà bào chế tha hồ mà bán ra thuốc Fosamax(bisphosphonate) là thuốc đặc trị do bs kê toa trong trường hợp các bà bị loãng xương..

“Laccueil réservé à la ménopause, somme toute normale, en dit long lui aussi sur lamplitude du désastre. Comme le racontait, en 2005, Jưrg Blech, journaliste scientifique au "Spiegel", dans son livre d'enquête "les Inventeurs de maladies" (Actes Sud), les fabricants sont parvenus à ancrer dans les esprits que lostéoporose (dont la définition ne cesse de sétendre avec lostéopénie ) est une fatalité”.
Được biết thuốc bisphosphonate mặc dù có hiệu quả trong việc giảm thiểu bệnh loãng xương nhưng thuốc có thể có phản ứng phụ làm osteonecrosis hư mục xương hàm (osteonecrosis), nhưng cũng rất hiếm thấy.
Créer de nouvelles maladies: quoi de mieux quun nouveau marché? On a ainsi pu assister à la création de nouvelles pathologies, comme le pré-diabète et la pré-hypertension (en conjonction donc avec la baisse des seuils de diagnostic ou lutilisation de substituts). On peut aussi penser à lostéopénie, qui correspond à des os de faible densité, mais dune densité suffisante pour ne pas être un cas dostéoporose. Cette “maladie” touche beaucoup plus de personnes que lostéoporose, et permet donc de vendre plus de bisphosphonates.

BỆNH HOẠN, MỘT THỊ TRƯỜNG BÉO BỞ
Rf Anne Crignon –Le Nouvel Observateur -La maladie, un marché juteux
Messages sanitaires mensongers
Laccueil réservé à la ménopause, somme toute normale, en dit long lui aussi sur lamplitude du désastre. Comme le racontait, en 2005, Jưrg Blech, journaliste scientifique au "Spiegel", dans son livre d'enquête "les Inventeurs de maladies" (Actes Sud), les fabricants sont parvenus à ancrer dans les esprits que lostéoporose (dont la définition ne cesse de sétendre avec lostéopénie ) est une fatalité. Message sanitaire mensonger, conçu pour faire peur. Car cest par la peur que les firmes gagnent les vastes marchés de la prévention et ses milliards de dollars et d euros. Plus le mensonge est énorme et moins il se voit.
Depuis qu on a abaissé la valeur de référence en matière de cholestérol, on est passé de 13 millions de patients traités à vie à 36 millions. Combien de bien portants ainsi capturés sur la base dune étude biaisée ? John Abramson, médecin et auteur d"Amérique sous overdose", raconte comment l industrie pharmaceutique a focalisé toute la prévention des troubles cardio-vasculaires sur labaissement du taux de cholestérol par les statines alors que la recherche montre que la meilleure prévention relève bien plus simplement de lexercice physique et de lalimentation.

Dịch từ báo Nouvel Observateur:

Thông tin y học láo khoét
Năm 2005, phóng viên khoa học Jorg Blech của báo Spiegel (Đức Quốc) trong tác phẩm điều tra của ông dưới tựa đề là “ Những người sáng chế ra bệnh” cho biết các nhà bào chế đã thành công trong việt nhồi sọ dân chúng ý niệm loãng xương ostéoporose (mà định nghĩa của nó không ngừng được mở rộng thêm ra với hiện tượng thiếu xương ostéopénie) là một định mệnh (fatalité). Chính sự sợ hãi của dân chúng đã giúp các xí nghiệp dược phẩm thống trị được một thị trường to tát về việc phòng ngừa loãng xương và nhờ đó mà họ thu được hằng tỷ dollars và euros. Láo khoét càng to tát chừng nào thì khó phát hiện chừng đó.
Từ lúc ngạch mức chẩn đoán cholesterol được người ta cố tình hạ xuống thì số bệnh nhân lúc trước là 6 triệu người phải uống thuốc suốt đời, nay thì tăng lên 36 triệu người. Như vậy có biết bao là những người có sức khỏe bình thường nay thì trở thành nạn nhân của một khảo cứu thiên vị (biasé) và bắt buộc họ phải uống thuốc hết. John Abramson, là bác sĩ và tác giả của quyển:
Overdosed America - John Abramson M.D.- the Dove.us
T
heo Bs John Abramson, kỹ nghê dược phẩm tập trung việc phòng ngừa bệnh tim mạch qua việc làm hạ cholestérol bằng thuốc statines trong khi các khảo cứu minh chứng là
vic phòng nga bnh tim mch tt nht là thc phm dinh dưỡng và vn đng th dc th thao.
Đc cho biết tin mi nht: Bnh t k không phi do thuc chng MMR gây ra.
Năm 1998 t
p chí y hc ni tiếng thế gii Lancet có đăng bài “đính chánh (a now retracted study) kho cu ca Gs Andrew Wakefield liên h đến nguyên nhân bnh ca bnh t k (autism) liên quan đến thuc chng nga MMR (measles, mump, rubella) tc là si, quai b và si Đc. Bs Wakefield b treo bng sau đó.
V
a qua, July 1, 2014, tp chí y khoa Pediatrics cho biết nhiu kho cu liên quan đến S liên h ca vaccine MMR và bnh t k đã đưa ra kết lun là Vaccin MMR không có gy ra hi chng ph t k (autism spectrum disorders).
Video: Journal questions validity of autism and vaccine study-By Debra Goldschmidt, CNN august 28/2014
http://www.cnn.com/2014/08/27/health/irpt-cdc-autism-vaccine-study/index.html?hpt=hp_c2
The debate over whether autism spectrum disorders are caused by vaccines started when researcher Andrew Wakefield published a now-retracted study in The Lancet in 1998 that linked the MMR vaccine to autism.
Most of Wakefield's co-authors withdrew their names from the study when they learned Wakefield had been compensated by a law firm intending to sue manufacturers of the vaccine in question. In 2010, Wakefield lost his medical license. And in 2011, The Lancet retracted the study after an investigation found Wakefield altered or misrepresented information on the 12 children who were the basis for the conclusion of his study.
Other researchers have not been able to replicate Wakefield's findings. In fact, several subsequent studiestrying to reproduce the results have found no link between vaccines and autism, including several reviews by the Institute of Medicine. Most recently, a study published in Pediatrics on July 1 concluded that vaccines do not causeautism spectrum disorders.
Vaccine MMR là gì?
http://www.healthlinkbc.ca/healthfiles/bilingua/vietnamese/hfil::4Â1::-V.pdf

Đ
c thêm:     video:Maladies inventées:un juteux marché
http://www.youtube.com/watch?v=3EQ2nn3Jx7o
Video:Overdosed America - John Abramson M.D.- the Dove.us
http://www.youtube.com/watch?v=OYBrXcsDzhI    (44phút) –nói tiếng Anh

(Các bn nên xem đon video ca 1 bs M dám nói lên s tht v thuc men, FDA và k ngh dược phm!)
Nguyn Thượng Chánh & Nguyn Ngc Lan:

- Bên trong kỹ nghệ thuốc Tây:
http://khoahocnet.com/2012/07/23/duoc-si-nguyen-ngoc-lan-bac-si-thu-y-nguyen-thuong-chanh-ben-trong-ky-nghe-thuoc-tay/
- Bnh loãng xương, trng đánh xuôi, kèn thi ngược
http://nguoivietboston.com/?p=23694
- Psychologies.com-Seniors /Les vendeurs de maladies
http://forum.psychologies.com/psychologiescom/Seniors/vendeurs-maladie-sujet_3972_1.htm
- Le Nouvel Observateur- Anne Crignon-Maladie,un marché juteux




 

 





__._,_.___

Posted by: "Patrick Willay

Featured Post

Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm

----- Message transmis ----- De : Nguyen Thi Thu Van : Mè rang và chứng tiểu tiện ban đêm Mè rang và chứ...

Popular Posts